Khu di tích Kim Liên – Quê Bác Hồ
Có một điều mà rất nhiều người Việt Nam mang theo từ thuở học trò, nhưng không phải ai cũng biết đủ để kể lại cho trọn vẹn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra ở đâu?
Nhiều người sẽ trả lời: làng Sen. Nhưng câu trả lời đúng là: làng Hoàng Trù. Làng Hoàng Trù còn gọi là làng Chùa, quê ngoại của Người, thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sáng ngày mười chín tháng năm năm một nghìn tám trăm chín mươi, cậu bé Nguyễn Sinh Cung cất tiếng khóc chào đời ở đó. Làng Sen, quê nội, là nơi Người sống từ năm một nghìn chín trăm linh một đến một nghìn chín trăm linh sáu, sau khi cha đỗ Phó bảng và được dân làng dựng nhà mừng. Hai làng cách nhau khoảng hai cây số, và cả nhà mình hôm nay sẽ cùng đi qua cả hai.
Khu di tích Kim Liên gồm bốn cụm chính: quê ngoại làng Hoàng Trù, quê nội làng Sen, khu tưởng niệm và nhà trưng bày, và khu mộ thân mẫu bà Hoàng Thị Loan trên núi Động Tranh. Toàn bộ quần thể được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số năm trăm bốn mươi tám ngày mười tháng năm năm hai nghìn không trăm mười hai. Vào cửa miễn phí cho tất cả mọi người.
Cả nhà bắt đầu từ làng Hoàng Trù nhé.
Ngôi nhà tranh ba gian của cha mẹ Bác đứng trong khuôn viên khoảng ba nghìn năm trăm mét vuông, bao quanh là hàng cau, bụi tre. Trong nhà, chiếc giường gỗ là nơi ba người con của gia đình lần lượt ra đời. Chiếc võng mộc mạc là nơi mẹ đưa con ngủ. Chiếc khung cửi dệt vải là công cụ mưu sinh của bà Hoàng Thị Loan. Ông ngoại Hoàng Xuân Đường là thầy đồ nổi tiếng, và câu chuyện về nhà này bắt đầu từ tình cảm người thầy: năm một nghìn tám trăm bảy mươi tám, cụ Hoàng Đường gặp cậu bé mồ côi Nguyễn Sinh Sắc đang chăm chỉ học dù hoàn cảnh khó khăn, rồi đem về nuôi dạy, sau này gả con gái trưởng là bà Hoàng Thị Loan cho. Đó là mối duyên lịch sử dẫn đến sự ra đời của Nguyễn Sinh Cung trên mảnh đất này.
Cậu bé Nguyễn Sinh Cung sống ở làng Hoàng Trù từ khi chào đời đến khoảng năm một nghìn tám trăm chín mươi lăm, khi cha theo kinh thành ôn thi. Rồi đến năm một nghìn chín trăm linh một, sau khi cha đỗ Phó bảng, cả nhà về quê nội làng Sen.
Làng Sen, tên chữ là Kim Liên, nghĩa là hoa sen vàng. Làng có nhiều ao sen nở hoa vào mùa hạ, và dòng họ Nguyễn Sinh định cư ở đây nhiều đời. Khi cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ đại khoa, nhân dân làng Sen đã chung sức mua ngôi nhà gỗ năm gian từ xã Xuân La mang về dựng trên mảnh đất công tặng gia đình. Cả nhà vào bên trong, cả nhà sẽ thấy điều đặc biệt: đây là nhà của một vị Phó bảng, nhưng tất cả nội thất chỉ có hai bộ phản gỗ, một chiếc giường, một chiếc rương đựng lương thực, một chiếc tủ hai ngăn và chiếc mâm gỗ sơn đen để ăn cơm. Gian thứ tư là nơi cụ Sắc đọc sách và dạy học cho hai con. Câu chữ khắc trên nhà là "An tứ ninh gia" và "Phó bảng phát khoa", phản ánh lối sống thanh bạch, không trọng danh vị.
Những năm tháng ở làng Sen từ năm một nghìn chín trăm linh một đến một nghìn chín trăm linh sáu là giai đoạn quan trọng nhất trong thời niên thiếu của Người. Cậu Nguyễn Tất Thành ra giếng Cốc gánh nước cho cha pha trà đón khách. Giếng Cốc là giếng đá ong cổ với mười tám bậc dẫn xuống lòng giếng, được đào từ khoảng năm một nghìn bảy trăm linh tám, nước trong và ngọt. Cậu sang lò rèn của cố Điền giúp thổi bễ. Cậu học chữ Hán với thầy Vương Thúc Quý, một cử nhân đỗ năm một nghìn tám trăm chín mươi mốt không ra làm quan mà ở nhà dạy học và hoạt động yêu nước. Chính tại nhà thầy, cậu học trò Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với Phan Bội Châu và các sĩ phu bàn chuyện cứu nước.
Hai lần về thăm quê là hai khoảnh khắc lịch sử khó quên. Ngày mười sáu tháng sáu năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, sau hơn năm mươi năm xa cách, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm làng Sen. Người vào ngôi nhà xưa, lần theo đúng lối mòn ngày nhỏ để thắp hương ở nhà thờ họ Nguyễn Sinh. Vừa bước ra khỏi nhà, Người đã hỏi ngay: "Trong này có lò rèn cố Điền, bấy lâu nay còn rèn nữa không?" Và Người gặp lại người bạn cũ thuở nhỏ, con trai ông Điền, xúc động nói chuyện. Câu hỏi đầu tiên đó nói lên điều gì về Người?
Ngày chín tháng mười hai năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt, Người trở về thăm quê lần thứ hai. Đó là lần cuối cùng Bác Hồ về thăm quê, và cũng là lần duy nhất Người về thăm riêng cụm Hoàng Trù. Tại đó, Người nhìn lại gốc mít trong vườn, gặp họ hàng. Khi cán bộ định che ô, Người từ chối và hỏi: "Chú có đủ ô che hết nắng cho bà con không?"
Cuối hành trình, cả nhà mình sẽ đến khu mộ bà Hoàng Thị Loan trên núi Động Tranh, thuộc dãy Đại Huệ, xã Nam Giang, cách làng Sen khoảng mười cây số. Bà mất năm một nghìn chín trăm linh một tại Huế khi mới ba mươi ba tuổi, sau khi sinh người con thứ tư. Năm một nghìn chín trăm bốn mươi hai, người con cả Nguyễn Sinh Khiêm đã âm thầm đưa hài cốt mẹ về và an táng bí mật trên núi Động Tranh để bảo vệ. Chỉ sau Cách mạng Tháng Tám, vị trí mộ mới được tiết lộ. Khu mộ hiện nay được xây dựng với mái che hình khung cửi, gợi nhắc nghề dệt vải suốt đời của bà. Lối lên phần mộ có hai trăm sáu mươi chín bậc, lối xuống có hai trăm bốn mươi hai bậc. Người ta nói rằng con số hai trăm sáu mươi chín gắn với năm một nghìn chín trăm sáu mươi chín, năm Bác Hồ mất; và con số ba mươi ba gắn với tuổi đời của bà, người mẹ ra đi khi còn quá trẻ.
Đứng trước phần mộ ấy trên núi Động Tranh, giữa tiếng gió và màu xanh của dãy Đại Huệ, cả nhà mình sẽ hiểu thêm một điều: người đàn bà dệt vải ở làng Hoàng Trù, người mẹ mất năm ba mươi ba tuổi ở Huế xa nhà, đã không hề biết rằng đứa con bà sinh ra bên khung cửi ấy sẽ đi vòng quanh thế giới và trở thành tên của một đất nước. Mái che hình khung cửi trên ngôi mộ nhắc lại điều đó, lặng lẽ và bền bỉ, qua từng mùa mưa nắng trên đỉnh núi.