Thành nhà Mạc Tuyên Quang
Đi giữa phố xá tấp nập của thành phố Tuyên Quang hôm nay, người ta có thể bất ngờ khi đứng trước một đoạn tường cổ xù xì, im lặng giữa dòng đời ồn ào. Đó là di tích Thành Tuyên Quang, mà nhiều người quen gọi là Thành nhà Mạc.
Tòa thành này mang hai tên. Sử sách gọi là Thành Tuyên Quang, còn người dân địa phương quen miệng gọi là Thành nhà Mạc. Cả hai tên đều đúng, cùng chỉ một công trình đã đứng vững suốt gần năm trăm năm trên mảnh đất này.
Di tích nằm tại khu vực trung tâm đô thị, giữa hai khu phố Xuân Hoà và Tam Cờ, thuộc phường Minh Xuân ngày nay. Đây là một vị trí không hề ngẫu nhiên. Thành án ngữ bên bờ sông Lô, gần các trục giao thông chính. Người đặt thành ở đây đã tính đến việc quan sát, kiểm soát và phòng thủ.
Về niên đại, hai nguồn chính thống cho hai con số khác nhau. Trang Công an tỉnh Tuyên Quang ghi thành xây vào khoảng năm một nghìn năm trăm ba mươi ba đến một nghìn năm trăm bốn mươi tám. Cẩm nang du lịch Tuyên Quang ghi mốc năm một nghìn năm trăm năm mươi hai. Vì hai nguồn có sự chênh lệch, cách nói an toàn nhất là công trình thành cổ thế kỷ mười sáu, thời nhà Mạc, và được sửa chữa thêm vào đầu thời Nguyễn.
Hình dáng thành, theo nguồn Công an tỉnh Tuyên Quang, là một hình vuông lớn. Mỗi bề dài hai trăm bảy mươi lăm mét. Tường cao ba phẩy năm mét. Bề dày phía trên cùng tường là không phẩy tám mét. Ở giữa mỗi mặt thành có một cửa bán nguyệt mở ra bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Trên mỗi cửa xây tháp và lợp mái ngói vảy. Bên ngoài tường thành là lớp hào sâu ngập nước bao quanh. Bên trong lòng tường có một con đường nhỏ phục vụ tiếp đạn, cứu thương và vận chuyển trong tình huống chiến đấu.
Vật liệu xây tường không phải gạch thông thường. Nguồn Công an tỉnh Tuyên Quang ghi gạch được làm từ đá ong chứa quặng sắt. Loại vật liệu này vừa sẵn có ở địa phương, vừa bền và nặng, phù hợp với yêu cầu phòng thủ của một tòa thành quân sự.
Bên trong thành còn có núi Thổ Sơn, nằm chếch về hướng bắc, cao gần năm mươi mét. Núi dốc đứng, rất thuận lợi cho việc quan sát toàn cảnh và cố thủ khi bị vây.
Ba sự kiện lịch sử gắn với khu vực thành này xứng đáng được cả nhà biết đến.
Từ tháng Tám năm một nghìn tám trăm tám mươi tư đến tháng Tư năm một nghìn tám trăm tám mươi lăm, lực lượng địa phương do Lãnh Chân và Đốc Thịnh chỉ huy, cùng quân Lưu Vĩnh Phúc, đã vây hãm quân Pháp chiếm đóng trong thành. Đây là một trong những cuộc kháng chiến chống Pháp sớm và quyết liệt của vùng đất Tuyên Quang.
Tháng Tám năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm, lực lượng cách mạng tiến công khu vực thành do quân Nhật đóng. Ngày hai mươi mốt tháng Tám năm đó, quân Nhật đầu hàng, Cách mạng Tháng Tám thành công tại Tuyên Quang.
Ngày hai mươi tháng Ba năm một nghìn chín trăm sáu mươi mốt, nhân dân Tuyên Quang mít tinh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay tại sân vận động ở chân núi Thổ Sơn, bên trong khu vực thành.
Ngày nay, di tích không còn nguyên vẹn. Qua bao thế kỷ biến thiên, thành đã bị chia cắt và hư hại, nay chỉ còn một đoạn tường ngắn và hai cổng chính phía Bắc và phía Tây. Nhưng chính những gì còn lại đó mang sức nặng của lịch sử, lớp lớp câu chuyện về những người đã chiến đấu, xây dựng, và bảo vệ vùng đất này.
Có một lớp truyền thuyết dân gian kể rằng thành được đắp xong chỉ trong một đêm. Báo Tuyên Quang năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt ghi rõ không ai nên xem đó là sự thật tuyệt đối; câu chuyện đó chỉ phản ánh việc đắp thành diễn ra khẩn trương với rất đông người tham gia. Đó là cách dân gian bày tỏ sự ngưỡng mộ, không phải ghi chép lịch sử.
Khi đứng trước đoạn tường đá ong còn lại, cả nhà hãy đặt bàn tay lên bề mặt xù xì đó mà cảm nhận. Những viên gạch đá ong chứa quặng sắt ấy đã im lặng chứng kiến gần năm trăm năm của vùng đất Tuyên Quang, từ thời nhà Mạc dựng nước, qua những cuộc vây hãm máu lửa, đến ngày Cách mạng Tháng Tám nổ ra ngay dưới chân núi Thổ Sơn. Tường cũ, nhưng câu chuyện thì không bao giờ cũ.