Vườn Quốc gia Phú Quốc
Phú Quốc không chỉ là bãi biển và khu nghỉ dưỡng. Phía bắc và đông bắc đảo có một vùng rừng rộng lớn mà nếu nhìn từ trên cao, sẽ thấy màu xanh đậm trải rộng như một lớp vỏ bọc tự nhiên bảo vệ đảo từ bên trong. Đó là Vườn Quốc gia Phú Quốc.
Theo Vườn Quốc gia Phú Quốc, vườn được thành lập theo Quyết định số chín mươi mốt của Thủ tướng Chính phủ ngày mùng tám tháng sáu năm hai ngàn không trăm lẻ một, trên cơ sở chuyển hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc đảo Phú Quốc. Năm hai ngàn không trăm mười chín, Vườn sáp nhập thêm Ban Quản lý Khu bảo tồn biển Phú Quốc và Ban Quản lý Rừng phòng hộ Phú Quốc. Tổng diện tích giao cho Vườn quản lý trên địa bàn Phú Quốc khi đó là bảy mươi bảy ngàn một trăm bảy mươi mốt phẩy bốn mươi bảy héc ta, gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và bảo tồn biển.
Con số đó rất lớn và rất có ý nghĩa: gần một nửa diện tích phần bảo tồn biển, tức hơn bốn mươi ngàn hecta, là vùng biển được quản lý bảo vệ. Điều đó giải thích vì sao nước quanh một số khu vực của đảo còn trong xanh và rạn san hô còn tương đối tốt.
Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, mà Vườn Quốc gia Phú Quốc là một phần, được UNESCO công nhận năm hai ngàn không trăm lẻ sáu. UNESCO mô tả khu dự trữ này có tổng diện tích hơn một triệu một trăm tám mươi tám ngàn hecta, với các hệ sinh thái gồm rừng nhiệt đới, rừng tràm ngập theo mùa, rừng ngập mặn, bãi bùn ven biển, rạn san hô và thảm cỏ biển. Các loài biển quan trọng được UNESCO nêu bao gồm dugong, tức bò biển, và rùa biển, cả hai đều thuộc nhóm loài cần bảo vệ nghiêm ngặt.
Về sinh thái rừng trên đảo, Vườn công bố ba hệ sinh thái rừng chính và chín sinh cảnh đặc trưng. Ba hệ sinh thái đó là rừng rậm cây lá rộng mưa ẩm nhiệt đới, rừng úng phèn và rừng ngập mặn. Trong chín sinh cảnh, một số nổi bật là rừng nguyên sinh cây họ Dầu, rừng tràm, rừng Truông Nhum, trảng tranh và sim mua. Đây là sự đa dạng sinh cảnh đặc biệt của một đảo nhiệt đới, nơi địa hình, độ cao, đất và nước thay đổi nhanh làm cho cảnh quan chuyển dịch liên tục trong khoảng cách ngắn.
Về đa dạng sinh học, điều tra năm hai ngàn không trăm lẻ ba ghi nhận một ngàn một trăm sáu mươi bốn loài thực vật và hai trăm bảy mươi loài động vật. Từ năm hai ngàn không trăm lẻ sáu đến năm hai ngàn không trăm mười bốn, thêm hai trăm ba mươi ba loài thực vật và hai trăm hai mươi loài động vật nữa được bổ sung vào danh sách. Trong đó, Vườn công bố có mười hai loài thực vật đặc hữu mang địa danh Phú Quốc, gồm Cù đèn Phú Quốc, Diệp hạ châu Phú Quốc, Tam thụ hùng Phú Quốc và nhiều loài khác. Loài động vật đặc hữu duy nhất được Vườn nêu là cá Chình suối, tên khoa học là Clarias gracilentus, sống trong hệ thống suối của đảo.
Khu vực Rạch Tràm là một trong những nơi đất ngập nước của Vườn còn giữ được quần xã Cóc đỏ và nhiều loài sinh vật rừng ngập mặn đặc trưng. Đi vào đây, cả nhà sẽ thấy rừng không chỉ là cây xanh, mà còn là nước đen nhánh chảy giữa gốc rễ, tiếng chim vọng xa, và mùi đất ẩm của một hệ sinh thái mà mấy trăm năm nay vẫn tự nuôi mình.
Giữa một hòn đảo mà phần lớn bờ biển đã được lấp đầy bởi khu nghỉ dưỡng và ánh đèn, Vườn Quốc gia Phú Quốc là phần còn lại của điều gì đó cũ hơn, yên tĩnh hơn và sâu hơn. Đó là nơi cá Chình suối vẫn bơi trong những khe đá tối, dugong vẫn ăn cỏ biển dưới làn nước xanh, và mười hai loài cây mang tên Phú Quốc vẫn lặng lẽ ra hoa mỗi mùa, không cần ai biết đến.