Vua Lý Thái Tổ
Mái chèo khua nước đều đều. Một đoàn thuyền lớn chầm chậm xuôi dòng sông trong sáng mùa thu hơn một nghìn năm trước. Trên thuyền đầu, một vị vua trẻ lặng lẽ nhìn về vùng đất mới ở cuối tầm mắt. Vị vua ấy là Lý Thái Tổ, người sắp đặt nền móng cho một kinh đô tồn tại đến tận hôm nay.
Trước khi làm vua, ông có tên thật là Lý Công Uẩn. Quê ông ở làng Cổ Pháp, ngày nay thuộc Đình Bảng, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đó là một vùng quê yên ả của vùng Kinh Bắc. Từ một làng quê như thế, một con người bình dị đã bước ra và làm nên chuyện lớn cho cả đất nước.
Theo trang của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, năm một nghìn không trăm lẻ chín, các quan trong triều cùng nhau tôn ông lên ngôi hoàng đế. Ông lập ra một triều đại mới, gọi là nhà Lý, và chọn niên hiệu là Thuận Thiên. Hai chữ Thuận Thiên có nghĩa là thuận theo ý trời. Ngay từ cái tên ấy, cả nhà đã thấy được tấm lòng của vị vua mới. Ông muốn làm những việc hợp với lòng người, hợp với lẽ phải, để dân được sống yên.
Khi lên ngôi, kinh đô của nước ta khi đó đặt ở Hoa Lư, một vùng đất nhiều núi đá. Hoa Lư hiểm trở, dễ phòng giữ, nhưng lại chật hẹp. Vua Lý Thái Tổ nhìn xa hơn. Ông mong một nơi rộng rãi hơn, một nơi bằng phẳng hơn, một nơi có sông lớn chảy qua cho thuyền bè đi lại, cho dân buôn bán làm ăn, cho con cháu đời sau có chỗ vươn lên.
Và vua đã chọn thành Đại La. Đất rộng. Sông lớn. Bốn bề thoáng đãng. Cả nhà thử hình dung mà xem: một vùng đất bằng phẳng nằm giữa đồng bằng, có dòng sông lớn ôm quanh, nhìn về phía nào cũng thấy ruộng đồng trù phú và đường đi rộng mở. Vua tin rằng đây sẽ là nơi muôn đời bền vững cho con cháu.
Thế là vào năm một nghìn không trăm mười, vua quyết định một việc rất lớn. Ông cho dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Cả một đoàn thuyền chở triều đình, chở của cải, chở cả niềm hy vọng, lặng lẽ rời vùng núi đá để đi tìm một khởi đầu mới giữa đồng bằng.
Theo trang của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long, mùa thu năm ấy, đoàn thuyền dời đô của nhà vua cập bến thành Đại La. Tương truyền rằng, khi thuyền vừa chạm bờ, trên bầu trời bỗng hiện lên một đám mây sáng hình một con rồng vàng đang bay vút lên cao. Vua thấy đó là điềm lành. Ông mỉm cười, và đặt cho kinh đô mới một cái tên thật đẹp: Thăng Long, nghĩa là rồng bay lên.
Cái tên Thăng Long mang theo một ước mơ. Rồng bay lên là hình ảnh của một đất nước vươn cao, một dân tộc đi tới những điều tốt đẹp. Từ ngày ấy, vùng đất bên sông trở thành trung tâm của cả nước, nơi tụ hội của bao đời người, bao mái nhà, bao câu chuyện. Thăng Long xưa chính là Hà Nội ngày nay.
Vua Lý Thái Tổ ở ngôi mười chín năm. Theo trang của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, đến năm một nghìn không trăm hai mươi tám, ông qua đời, để lại một kinh đô và một triều đại sẽ còn nối tiếp qua nhiều thế hệ. Bây giờ, nếu cả nhà đứng bên bờ sông Hồng giữa Hà Nội, vẫn có thể hình dung đoàn thuyền năm xưa lặng lẽ trôi qua. Ở quê ông, vùng Đình Bảng, người dân vẫn nhớ ơn vị vua sinh ra từ làng quê của họ.
Một vị vua hiền lành từ làng Cổ Pháp đã đặt tên cho mảnh đất này là rồng bay lên. Đoàn thuyền mùa thu năm xưa đã đi xa. Áng mây hình rồng trong câu chuyện cổ cũng đã tan vào trời. Nhưng hơn một nghìn năm sau, con rồng ấy vẫn đang bay, trong từng nhịp sống của một thành phố không bao giờ ngủ yên.