Vua Lý Thái Tông
Sáng sớm hôm ấy, sương còn đọng trên ngọn lúa non, một cậu bé ở vùng quê ven sông đứng nép sau bờ ruộng, mắt mở thật to. Cả cánh đồng đông nghịt người, ai cũng hướng về một thửa ruộng bùn. Rồi cậu thấy một điều mà cả đời cậu chưa từng thấy. Một người mặc áo đẹp, dáng vẻ trang nghiêm, bước xuống ruộng, xắn ống quần, đặt tay lên cán cày. Người lớn quanh cậu thì thầm với nhau, giọng vừa ngạc nhiên vừa cảm động: đó là nhà vua.
Người mặc áo đẹp đang lội bùn ấy chính là nhà vua Lý Thái Tông, tên húy Lý Phật Mã, vị vua thứ hai của nhà Lý. Theo báo VnExpress, ngài sinh vào năm một nghìn, và ở ngôi suốt một quãng dài, từ năm một nghìn không trăm hai mươi tám cho đến năm một nghìn không trăm năm mươi tư.
Cả nhà mình thử hình dung mà xem. Một vị vua, người cao quý nhất trong cả nước, lẽ ra chỉ ngồi trong cung điện. Vậy mà ngài lại xuống tận ruộng bùn, cầm cày như một người nông dân thật sự. Theo báo Người Hà Nội, Lý Thái Tông chính là vị vua nhà Lý đầu tiên khôi phục lễ tịch điền, là lễ nhà vua tự mình cày ruộng để làm gương khuyến khích dân chăm việc đồng áng.
Ngài không chỉ làm một lần cho có. Ngài đích thân về vùng đồng bằng xem gặt và cày ruộng nhiều lần, trong các năm một nghìn không trăm ba mươi hai, một nghìn không trăm ba mươi tám và một nghìn không trăm bốn mươi hai. Mỗi lần như thế, dân làng lại được tận mắt thấy nhà vua lội bùn cùng mình.
Cậu bé bên bờ ruộng nghe một cụ già đứng cạnh khẽ nói, giọng ấm như nắng mới: vua mà còn xuống ruộng, thì mình cứ yên tâm mà chăm cây lúa, cháu ạ. Cậu chưa hiểu hết, nhưng cậu thấy quanh mình ai cũng gật đầu. Bởi khi người đứng đầu cả nước cũng cúi xuống nâng niu hạt gạo, thì người trồng lúa biết rằng việc mình làm là việc đáng quý, để mùa màng tươi tốt, để mỗi nhà đều có cơm no.
Tấm lòng thương dân của ngài không chỉ ở luống cày. Theo báo Người Hà Nội, mỗi khi gặp năm mất mùa, đói kém, vua lại cho giảm hoặc miễn tô thuế cho dân trong hai đến ba năm. Nghĩa là những năm khó khăn nhất, gánh nặng trên vai người dân được nhẹ bớt đi, để bà con kịp gượng dậy, lo cho con cái.
Cũng chính tấm lòng ấy đã làm nên một việc lớn khác, lần này không phải trên đồng ruộng mà ở chốn cửa quan. Cả nhà thử nghĩ về một bác nông dân hiền lành ở một làng quê như làng cậu bé. Trước thời vua, việc xét xử trong dân nhiều khi rối rắm. Có khi quan lại giữ luật cứng nhắc quá, khiến người ngay cũng bị oan. Vua thương dân nên cho người soạn lại phép tắc cho rõ ràng, dễ hiểu, hợp với lẽ đời.
Theo Tạp chí Tòa án nhân dân, vào năm một nghìn không trăm bốn mươi hai, vua cho ban hành bộ Hình thư, gồm ba quyển. Đây chính là bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử nước ta. Từ đó, các điều khoản được chia rõ ràng, dân dễ biết điều gì nên làm, điều gì nên tránh. Sử cũ chép lại rằng khi sách làm xong và ban ra, dân lấy làm tiện.
Cậu bé bên bờ ruộng năm ấy có lẽ chưa hiểu hết một bộ sách lớn lao đến thế. Nhưng lớn lên, cậu sẽ thấy nhà mình bớt sợ cửa quan, vì đã có phép nước rõ ràng che chở người ngay.
Nghĩ mà thương. Một bộ luật, nghe thì khô khan, nhưng gốc rễ của nó lại là lòng thương người. Vua không muốn ai bị xử oan, không muốn ai sợ hãi vì không hiểu phép nước. Ngài muốn mọi việc minh bạch, để người hiền lành được sống yên ổn.
Cũng có những lúc đất nước chưa thật thái bình, vua phải lo việc cho nước được yên. Nhưng điều người đời sau nhớ nhất về Lý Thái Tông không phải là những điều ấy. Người ta nhớ một vị vua xắn quần lội ruộng, một vị vua cho soạn luật để che chở dân lành, một vị vua nhẹ tay thuế má những năm đói kém.
Cả nhà thử nhắm mắt lại mà hình dung cái buổi sáng sương giăng năm xưa. Một thửa ruộng bùn. Một vị vua xắn quần bước xuống, đặt tay lên cán cày, lật lên những luống đất thơm mùi bùn mới. Và một cậu bé đứng nép bên bờ, ngẩn người nhìn theo. Đường cày ấy đã có từ gần một nghìn năm trước. Vậy mà mỗi lần mình nghĩ tới, lòng vẫn thấy ấm, như thể luống đất ngày ấy vẫn còn thơm đâu đây trên những cánh đồng quê Việt.