Lê Thái Tổ
Từ chân núi Lam Sơn ở Thanh Hóa ra tới bờ sông Nhị trước thành Đông Quan, con đường ấy không đo bằng dặm, mà đo bằng năm tháng. Lê Lợi đi hết nó trong mười năm. Ông sinh năm một nghìn ba trăm tám mươi lăm, là người con của chính vùng đất Lam Sơn, trong một gia đình đời đời làm quân trưởng một phương. Người đời sau gọi ông là người anh hùng áo vải.
Thời ấy, nhà Minh đã chiếm Đại Việt từ năm một nghìn bốn trăm lẻ bảy, người dân chịu nhiều khổ cực. Năm một nghìn bốn trăm mười sáu, ở Lũng Nhai, một chỗ hiểm yếu giữa núi rừng Lam Sơn, Lê Lợi cùng mười tám người bạn thân thiết làm lễ thề. Mười chín con người, một lời hẹn.
Hai năm sau, ngày mùng hai tháng Giêng năm Mậu Tuất, tức năm một nghìn bốn trăm mười tám, khi rừng núi còn ướt sương xuân, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Ông tự xưng là Bình Định Vương và truyền hịch đi khắp nơi, gọi mọi người về một mối. Lực lượng buổi đầu nhỏ lắm, còn đối thủ thì đông và mạnh.
Những năm đầu là những năm gian nan nhất. Có một lần, nghĩa quân bị vây thật ngặt. Lê Lai, một trong những người đã thề ở Lũng Nhai, liền cải trang thành chủ tướng, sắp đặt nghi trượng chỉnh tề, dẫn năm trăm quân cùng hai voi chiến xông ra, nói lớn rằng chúa Lam Sơn chính là ông. Lê Lai không trở về nữa. Quân Minh tưởng đã bắt được người cầm đầu, liền rút về thành Tây Đô, và Lê Lợi cùng nghĩa quân thoát được vòng vây. Về sau, Lê Lợi dặn lại một điều: khi ông mất, đến ngày giỗ ông thì một ngày trước đó phải cúng tế Lê Lai.
Có lúc nghĩa quân phải tạm hòa với đối phương, lui về Lam Sơn gây dựng lại sức. Rồi năm một nghìn bốn trăm hai mươi bốn, Lê Lợi họp các tướng và hỏi một câu rất khó: chúng ta sẽ đi về đâu để lo việc nước? Tướng Nguyễn Chích đứng lên. Ông từng qua lại xứ Nghệ, và ông nói Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông, nay hãy giữ cho được Nghệ An để làm chỗ đứng chân. Lê Lợi và các tướng chấp thuận.
Từ đó, con đường rẽ về phương nam. Nghĩa quân bất ngờ đánh đồn Đa Căng, rồi đặt phục binh ở ải Khả Lưu và Bồ Ải, những chỗ hiểm trên đường lên thành Trà Lân. Thành Trà Lân bị vây hai tháng, không có viện binh, viên tướng giữ thành là Cầm Bành phải mở cửa xin hàng. Cả một vùng rộng lớn ở miền tây Nghệ An được giải phóng. Người xứ Nghệ hồ hởi hưởng ứng, các thủ lĩnh như Cầm Quý tìm đến gia nhập. Nghĩa quân giải phóng Diễn Châu, quay ra Thanh Hóa, rồi tiến vào tận Tân Bình, Thuận Hóa.
Lê Lợi có một cách đánh rất riêng. Ông cho rằng đánh thành là hạ sách. Nghĩa quân vây chặt thành, rồi chặn đánh những đoàn quân kéo đến cứu: vây thành diệt viện. Họ dùng phục binh, lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh. Đến năm một nghìn bốn trăm hai mươi sáu, đội quân nhỏ bé buổi đầu đã thành một đạo quân lớn, chia cánh tiến ra Bắc.
Từ ngày năm đến ngày bảy tháng mười một năm ấy, ở Tốt Động, Chúc Động, quân của Vương Thông, viên tướng nhà Minh, thua nặng. Cuối năm, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đặt bản doanh ở bến Bồ Đề, bờ bắc sông Nhị, nhìn sang thành Đông Quan ở bờ nam, và vây thành. Giữa lúc vây thành, Lê Lợi vẫn mở một khoa thi đặc cách, lấy đỗ ba mươi hai người. Thử nghĩ mà xem: bên kia sông là tường thành của đối phương, còn bên này, trong doanh trại, có những người ngồi nắn nót viết bài thi.
Cuối năm một nghìn bốn trăm hai mươi bảy, viện binh nhà Minh kéo sang cứu Đông Quan bị chặn đánh tan ở Chi Lăng rồi Xương Giang. Lúc ấy, quân Minh chỉ còn giữ được ba thành: Đông Quan, Cổ Lộng và Tây Đô. Trong thành Đông Quan, Vương Thông hiểu rằng sẽ không còn ai đến cứu.
Ngày mười tháng mười hai năm một nghìn bốn trăm hai mươi bảy, ở phía nam thành Đông Quan, bên bờ sông Nhị, hai phái đoàn gặp nhau. Bên Lam Sơn do Lê Lợi dẫn đầu, bên Minh do Vương Thông dẫn đầu. Vương Thông cam kết rút hết quân về nước. Lê Lợi bảo đảm cho quân Minh được toàn tính mạng trở về. Rồi phía Lam Sơn còn làm một việc khiến người đời nhớ mãi: cấp cho đối phương năm trăm chiếc thuyền, vài nghìn con ngựa, cùng lương thực để lên đường. Ngày hai mươi chín tháng mười hai, quân Minh bắt đầu rút. Ngày ba tháng một năm một nghìn bốn trăm hai mươi tám, đội quân cuối cùng của Vương Thông rời đi. Mười năm khởi nghĩa khép lại bằng những con thuyền lần lượt rời bến.
Ngày mười lăm tháng tư năm Mậu Thân, tức ngày hai mươi chín tháng tư năm một nghìn bốn trăm hai mươi tám, tại điện Kính Thiên giữa thành Đông Đô, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế. Ông đặt niên hiệu Thuận Thiên, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, và đóng đô ở Đông Đô, tức Thăng Long, Hà Nội ngày nay. Tòa thành ông từng vây, giờ là kinh đô của ông. Sau này, người đời tôn gọi ông là Lê Thái Tổ. Ông sáng lập triều Hậu Lê, một trong những triều đại dài nhất trong lịch sử Việt Nam, mà giai đoạn đầu người đời quen gọi là nhà Lê sơ.
Năm một nghìn bốn trăm hai mươi chín, triều đình mở khoa thi Minh Kinh. Năm một nghìn bốn trăm ba mươi ba, chính nhà vua ra đề thi văn sách. Cũng năm ấy, sau năm năm làm vua, Lê Thái Tổ mất, và được an táng tại Vĩnh Lăng, trên chính quê hương Lam Sơn. Con đường mười năm đi từ chân núi ra tới bờ sông Nhị, cuối cùng lại vòng về đúng chân núi ấy.
Người Lam Sơn vẫn nhớ lời ông dặn. Một nén hương thắp trước cho người bạn đã khoác áo chủ tướng xông vào vòng vây, rồi mới đến nén hương cho người anh hùng áo vải, giữa làn sương sớm vẫn giăng trên rừng núi Lam Sơn.