Vua Mạc Đăng Doanh
Đêm xuống trong một ngôi làng xưa, có một em bé nằm nghe gió thổi qua mái lá. Cánh cửa nhà em chỉ khép hờ, không cài then. Ngoài sân, vài cái nong, cái nia phơi dở vẫn để đó qua đêm, chẳng ai mang vào. Cả nhà ơi, đó là một đêm bình yên đến lạ.
Em bé ấy sống vào thời một vị vua tên là Mạc Đăng Doanh. Theo các tài liệu lịch sử, ông là vị vua thứ hai của nhà Mạc, là con của vua Mạc Đăng Dung. Sau khi ông mất, người đời tôn ông là Mạc Thái Tông, một cái tên để nhớ về một ông vua hiền.
Ông lên ngôi vào năm một nghìn năm trăm ba mươi, và làm vua trong khoảng mười năm, đến năm một nghìn năm trăm bốn mươi. Niên hiệu của ông là Đại Chính. Mười năm ấy giống như mười mùa lúa nối nhau, mùa nào cũng có người gặt, có khói bếp, có tiếng trẻ con cười ngoài ngõ.
Sử cũ kể thời ông đất nước được yên ấm, nhà nhà no đủ. Ông chăm lo cho dân, để trong nhà ai cũng có nồi cơm đầy, ngoài đồng lúa chín vàng. Khi lòng người đã no đủ và tin nhau, thì làng xóm tự nhiên trở nên bình yên. Người ta sống thư thái, tin yêu và nhường nhịn nhau hơn.
Sử cũ chép lại một hình ảnh thật đẹp về thời ấy. Người xưa kể rằng, ban đêm nhà nhà ngủ ngon mà không phải đóng cửa cài then. Của ai đánh rơi ngoài đường, người đi sau lại nhặt lên trả. Không ai lấy làm của riêng. Đây là cách người xưa ngợi ca một thời thanh bình, kể lại như một bức tranh đẹp, chứ không phải là chuyện đo đếm từng nhà từng món.
Ta thử tưởng tượng một buổi chiều trong làng. Bếp nhà nào cũng lên khói, thơm mùi cơm mới. Ngoài ngõ, mấy chiếc chiếu phơi vẫn trải đó, trẻ con chạy chơi mà chẳng ai phải trông chừng. Cả làng cứ thế sống thong dong, tin nhau và thương nhau đến nhường ấy.
Vị vua này còn rất quý sự học. Dưới thời ông, triều đình đều đặn mở các kỳ thi để tìm người tài giỏi ra giúp dân giúp nước. Học trò khắp nơi chăm chỉ đèn sách, mong một ngày được đem cái chữ, cái hiểu biết của mình ra giúp đời.
Trong những người tài thời ấy, có một danh sĩ rất nổi tiếng tên là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông đỗ đạt vào năm một nghìn năm trăm ba mươi lăm, và được người đời sau kính trọng mãi. Một đất nước biết quý người tài, biết trọng cái chữ, thì cái nền yên ấm ấy mới bền lâu được.
Một thời thái bình như thế không tự nhiên mà có, cả nhà ạ. Nó đến từ một ông vua chịu thương chịu khó lo cho dân, từ những người dân lương thiện biết nhường nhau. Và từ một niềm tin giản dị: cứ sống ngay thẳng thì cuộc đời sẽ tử tế lại với mình.
Và thế là, đêm nay, trong ngôi làng xưa ấy, cánh cửa vẫn chỉ khép hờ. Em bé nhắm mắt ngủ, lòng nhẹ tênh. Ngoài kia, trăng sáng trải khắp những mái nhà, trải khắp một miền quê thanh bình mà người ta còn kể lại mãi, qua bao nhiêu mùa lúa, cho đến tận bây giờ.