Lê Đại Hành
Mùa xuân năm chín trăm tám mươi bảy, dưới chân núi Đọi, một luống cày đã được lật lên mà nghìn năm nước Việt chưa từng có. Người cầm cày hôm ấy không phải một bác nông dân, mà chính là hoàng đế của cả nước. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, một vị vua tự tay xuống ruộng, đi sau con trâu, lật đường cày đầu mùa trên thửa đất còn thơm mùi bùn mới. Vị vua ấy tên là Lê Hoàn, người đời quen gọi là vua Lê Đại Hành.
Để hiểu vì sao một ông vua lại quý luống đất đến thế, ta hãy về vùng quê đã sinh ra ông. Lê Hoàn sinh năm chín trăm bốn mươi mốt, ở làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông là người con của đất Ái Châu, mồ côi từ nhỏ, được một nhà họ Lê trong vùng nhận về nuôi nấng. Tuổi thơ ông lớn lên giữa đồng ruộng, giữa những người chân lấm tay bùn, nên trong lòng ông, hạt thóc của nhà nông luôn là điều đáng quý.
Lớn lên, Lê Hoàn trở thành một vị tướng tài giỏi. Dưới triều nhà Đinh, từ năm chín trăm bảy mươi mốt, ông được tin cậy giao chức Thập đạo tướng quân, tức là người tổng chỉ huy quân đội cả nước. Một cậu bé mồ côi nơi làng quê Thanh Hóa, bằng tài năng và lòng quả cảm, đã đứng đầu ba quân.
Rồi đất nước gặp cơn thử thách lớn. Năm chín trăm tám mươi, Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Tiền Lê, vẫn giữ quốc hiệu Đại Cồ Việt và đóng đô ở Hoa Lư. Theo trang thông tin của ngành quân sự, ngay năm sau, năm chín trăm tám mươi mốt, ông lãnh đạo quân dân Đại Cồ Việt đánh tan quân Tống, giữ vững bờ cõi nước nhà. Một dân tộc nhỏ bé mà trên dưới một lòng, biết chung sức đồng lòng, đã giữ được mảnh đất của mình. Về sau, ông cũng vững vàng gìn giữ bờ cõi phía nam, để dân được sống yên.
Cả nhà thử nghĩ mà xem. Một người vừa cầm quân giữ yên non sông, lẽ ra có thể ngồi yên trên ngai vàng. Vậy mà việc đầu tiên vua nghĩ tới lại là chuyện no ấm của muôn dân. Và đó mới là điều khiến người đời nhớ ông nhất.
Theo Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa, chính vì thương dân mà năm chín trăm tám mươi bảy, vua Lê Đại Hành đã làm cái việc chưa từng có ấy ở núi Đọi. Ông tự mình xuống ruộng tịch điền, cầm tay cày, cày luống đất đầu mùa. Đây là lễ tịch điền đầu tiên trong lịch sử nước ta. Người dân đứng đầy hai bên bờ ruộng, thoạt đầu ngỡ ngàng, rồi rưng rưng vui mừng. Bởi từ đó họ hiểu rằng, trong mắt nhà vua, việc nhà nông cũng cao quý chẳng kém việc giữ nước.
Sử cũ còn kể lại một chuyện vui quanh buổi cày ấy. Tương truyền, khi cày ở núi Đọi, vua bắt được một hũ vàng nhỏ, cày ở núi Bàn Hải lại được một hũ bạc nhỏ. Vì thế ông đặt tên cho ruộng là ruộng Kim Ngân, nghĩa là ruộng vàng ruộng bạc. Dù đó chỉ là chuyện xưa được truyền lại, nó vẫn gửi gắm một điều thật đẹp. Với người nông dân, ruộng đồng chính là kho vàng kho bạc của đời mình, và vị vua kia đã nhìn thấy điều đó.
Từ buổi cày đầu tiên ấy, về sau lễ tịch điền trở thành một nếp đẹp được gìn giữ. Cứ mỗi độ đầu xuân, người ta lại xuống ruộng cày luống đầu mùa, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Một việc làm giản dị mà ấm áp, nối người trên với người dưới bằng chính luống đất quê hương.
Vua Lê Đại Hành ở ngôi hai mươi tư năm, rồi mất năm một nghìn không trăm lẻ năm. Ông để lại cho đời sau hình ảnh một con người đặc biệt. Từ cậu bé mồ côi nơi làng quê Thanh Hóa, đến vị tướng cầm quân giữ nước, rồi thành vị vua đầu tiên cúi mình xuống luống đất, trân trọng từng giọt mồ hôi của nhà nông.
Cả nhà ạ, đường cày đầu tiên ấy đã được lật lên hơn một nghìn năm trước, dưới chân núi Đọi. Vậy mà mỗi khi nghĩ tới một người ở ngôi cao nhất nước lại biết quý hạt thóc của người nghèo, lòng ta vẫn thấy ấm, như thể hơi đất mùa xuân năm xưa vẫn còn thơm đâu đây.