Vua Lê Dụ Tông
Một buổi chiều ở vùng quê Thanh Hóa, hơn ba trăm năm trước. Đồng lúa xanh trải dài, khói bếp lên đều, chợ làng họp rồi tan trong tiếng nói cười. Không có tiếng trống trận, không có binh đao. Đó là thời của một vị vua tên là Lê Dụ Tông.
Theo Báo Người Lao Động và Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa, vua Lê Dụ Tông là vua nhà Lê trung hưng. Ông lên ngôi vào năm một nghìn bảy trăm lẻ năm, và làm vua trong khoảng hai mươi lăm năm. Một quãng thời gian dài, đủ để cả một thế hệ lớn lên trong yên ổn.
Điều đáng nhớ nhất về thời vua trị vì không phải là những trận đánh lớn, mà chính là sự bình yên. Báo Người Lao Động cho biết dưới thời ông, đất nước tương đối thái bình, trong nước không xảy ra binh đao, và muôn dân được hưởng cảnh yên vui. Một thời mà người dân được làm ăn, được nghỉ ngơi, được sống đời thường mà không phải lo loạn lạc. Đó đã là một điều quý giá vô cùng.
Theo Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa, sinh thời vua Lê Dụ Tông là người mộ đạo Phật. Lúc rảnh việc nước, ông thường tìm đến các ngôi chùa ở kinh thành Thăng Long để nghe giảng đạo. Một vị vua thích sự an tĩnh, thích những lời dạy về lòng hiền hòa. Có lẽ chính tấm lòng ấy cũng góp phần làm nên những năm tháng thanh bình.
Rồi tháng năm trôi qua, vua về an nghỉ. Người ta dựng cho ông một khu lăng mộ ở làng Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Và đây mới là phần kỳ lạ nhất của câu chuyện, cả nhà ạ.
Nhiều đời sau, lớp lớp thời gian phủ lên, cây cỏ mọc lên, và người ta dần không còn biết chính xác nơi vua nằm. Cho đến một ngày, vào tháng Hai năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, một người dân ở làng Bái Trạch đang làm vườn thì tình cờ phát hiện dấu tích của khu lăng mộ ngay dưới chân mình.
Hãy hình dung xem, một vị vua từng trị vì cả một thời thái bình, vậy mà nơi an nghỉ của ông lại lặng lẽ nằm đó, được đất đai và xóm làng gìn giữ qua bao thế kỷ. Như thể quê hương vẫn âm thầm ôm lấy người con của mình.
Từ đó, người ta lặng lẽ gìn giữ khu lăng như một cánh cửa hé mở về một thuở xưa. Từng pho tượng đá, từng nét chạm khắc còn kể lại đời sống trang nghiêm chốn cung đình, để con cháu hôm nay hình dung được phần nào nếp sống của một thời đã qua.
Và câu chuyện có một cái kết thật ấm áp. Ngày hai mươi lăm tháng Một năm hai nghìn không trăm mười, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức một lễ hoàn táng trang trọng. Theo nguyện vọng của Hội đồng họ Lê và bà con xã Xuân Giang, vua được đưa về an nghỉ tại chính nơi đã phát hiện ra lăng mộ, đúng chốn quê xưa.
Và đến năm hai nghìn không trăm mười chín, nơi ấy đã được trân trọng gìn giữ như một di tích của quê hương: một công trình kiến trúc bằng đá tinh xảo, có lăng chính, có hồ bán nguyệt, có những pho tượng đá đứng lặng theo lối xưa.
Nếu một ngày cả nhà có dịp về Thọ Xuân, mình hãy bước thật nhẹ giữa khu lăng. Gió đồng thổi qua những hàng tượng đá, mặt hồ bán nguyệt phẳng lặng soi bóng trời. Ở đó, một vị vua của thời thanh bình vẫn yên nghỉ trên chính mảnh đất quê mình, được con cháu gìn giữ qua bao đời.