Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
Vó ngựa gõ đều trên con đường men theo dòng sông Hương. Một cậu bé ngồi sau lưng người lớn, hai tay bám chặt, mắt mở to nhìn nước sông xanh thẫm uốn khúc dưới chân đồi. Người đi trước, dáng vững chãi giữa nắng chiều, là Chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Con đường này, ông đã đi suốt một đời, để mở ra một quê mới cho con cháu.
Nguyễn Hoàng sinh năm một nghìn năm trăm hai mươi lăm. Theo trang Người Kể Sử, ông sống thọ đến tám mươi chín tuổi, một đời rất dài cho thời ấy. Nhưng điều khiến người đời sau nhớ đến ông không phải là tuổi thọ, mà là một chuyến đi. Một chuyến đi rời bỏ quê cũ ngoài phương bắc, men theo những con đường về miền trong, tới một vùng đất lạ khi ấy hầu như chưa ai biết tên.
Năm một nghìn năm trăm năm mươi tám, Nguyễn Hoàng rời quê nhà, đi vào trấn thủ một dải đất bên kia đèo, gọi là xứ Thuận Hóa. Cả nhà thử hình dung mà xem. Vùng đất ấy khi đó còn hoang vu, thưa người, lắm điều chưa ai rõ. Đi tới một nơi như thế cần rất nhiều can đảm. Vậy mà ông đã đi, và đã ở lại, gắn bó với vùng đất này cho đến tận cuối đời.
Người dân quý mến gọi ông là Chúa Tiên. Ông là vị chúa Nguyễn đầu tiên, người mở đầu cơ nghiệp họ Nguyễn ở miền trong mà sử sách quen gọi là Đàng Trong. Mãi về sau, để ghi nhớ công người đặt nền móng, các đời con cháu mới truy tôn ông danh hiệu Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế. Đó là tên gọi trang trọng đời sau dành tặng ông; còn lúc sinh thời, ông vẫn là một vị chúa cần mẫn, ngày ngày lo gây dựng quê mới.
Mở một vùng đất không chỉ là đắp đường, vỡ ruộng. Người xưa tin rằng đất lành thì lòng người mới yên. Và ở đây có một câu chuyện được dân gian kể lại từ đời này sang đời khác.
Chuyện kể rằng bên dòng sông Hương có một ngọn đồi tên là Hà Khê. Đêm đêm, người ta đồn rằng trên đồi hiện ra một bà lão mặc áo đỏ quần xanh, dáng hiền từ. Bà bảo rằng rồi sẽ có một vị chân chúa tìm đến đây lập chùa, để tụ khí thiêng, để giữ cho long mạch bền vững, làm cho vùng đất mới ngày một hưng thịnh. Người xưa truyền tai nhau câu chuyện này từ đời này sang đời khác, như một lời kể dân gian, chứ không phải điều sử sách ghi lại. Người ngồi phía trước trên lưng ngựa, là Chúa Tiên, khẽ kể cho cậu bé nghe câu chuyện ấy, mắt nhìn xa về phía ngọn đồi.
Cậu bé nghe xong, ngước nhìn ông, thấy mắt ông sáng lên. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng tin rằng đây chính là điềm lành cho vùng đất mình đang dựng xây. Năm một nghìn sáu trăm lẻ một, ông cho dựng một ngôi chùa ngay trên đồi Hà Khê, bên tả ngạn sông Hương. Cái năm xa xôi ấy về sau được nhớ mãi như buổi khai sinh của một ngôi chùa sẽ còn đứng đó hàng mấy trăm năm. Ông đặt tên chùa là Thiên Mụ, nghĩa là bà tiên, bà mụ nhà trời, để nhớ về bà lão áo đỏ trong câu chuyện kia.
Ngọn đồi ấy nằm ngay phía tây Huế, chỉ một quãng ngắn xuôi theo dòng sông là tới. Đứng trên đồi, gió sông thổi mát, mặt nước lấp lánh phía dưới, thật dễ hiểu vì sao một người đang gây dựng quê mới lại chọn nơi này để gửi gắm niềm tin.
Ngôi chùa ấy về sau được xem là ngôi chùa cổ nhất của đất Cố đô Huế. Nhưng điều ở lại lâu hơn cả mái ngói rêu phong, là tấm lòng của người đã dám rời quê cũ, kiên nhẫn vun đắp cho một vùng đất mới suốt mấy chục năm trời.
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất năm một nghìn sáu trăm mười ba, sau một đời dài gắn bó với xứ Thuận Hóa. Cậu bé năm xưa rồi cũng lớn lên, và mỗi khi đi ngang ngọn đồi Hà Khê, cậu vẫn nhớ buổi chiều ngồi sau lưng ông, nghe vó ngựa gõ đều bên dòng sông. Điều ông để lại không nằm gọn trong một bức tượng hay một dòng chữ. Nó nằm trong những cánh đồng, những bến sông, những mái nhà của bao thế hệ về sau trên vùng đất ấy.
Nếu một ngày cả nhà đứng bên dòng sông Hương, nhìn ngọn đồi Hà Khê soi bóng xuống nước, hãy thử nhắm mắt lại một chút. Biết đâu cả nhà sẽ nghe được vó ngựa năm xưa, và hình dung ra một con người đã đi thật xa, chỉ để mở ra một quê mới cho con cháu mình.