Hoàng tử Lý Long Tường
Gió biển mặn táp vào mặt. Trước mũi thuyền chỉ có sóng và sóng, trải dài tới tận chân trời xám. Trên một con thuyền lớn rời xa bờ, một vị hoàng tử đứng lặng, áo bào bay phần phật, mắt dõi về phía trước nơi chưa ai trong đoàn từng đặt chân tới. Vị hoàng tử ấy là Lý Long Tường. Cả nhà mình thử đứng cạnh ông trên boong thuyền, nghe gió rít, nhìn bờ quê khuất dần phía sau lưng.
Nhưng vì sao một vị hoàng tử lại phải rời xa quê hương đến thế? Câu chuyện bắt đầu từ kinh thành Đại Việt. Ông là con thứ bảy của vua Lý Anh Tông, vị vua trị vì từ năm một nghìn một trăm ba mươi tám đến năm một nghìn một trăm bảy mươi lăm. Là người trong hoàng tộc nhà Lý, ông được phong tước vương. Như các hoàng tử thời ấy, hẳn từ nhỏ ông đã quen với tiếng trống kinh thành, với những trang sách và mái cung điện thân thuộc.
Rồi đến một thời, vận nhà Lý dần đổi thay. Năm một nghìn hai trăm hai mươi sáu, Lý Long Tường cùng một số người trong hoàng tộc quyết định vượt biển, đi tìm một nơi bình yên để gìn giữ dòng dõi. Hãy tưởng tượng một đoàn thuyền nhỏ, chở theo người thân, sách vở và bao kỷ niệm của quê nhà, lặng lẽ tách khỏi bờ biển Đại Việt.
Có những đêm trên thuyền chỉ nghe tiếng sóng vỗ vào mạn và tiếng gió. Có những sớm mai, cả đoàn cùng nhìn về phía mặt trời mọc, tự hỏi bến bờ mới sẽ ra sao. Cuối cùng, họ cập vào bờ một xứ sở cách quê nhà cả một vùng biển lớn, tên là Cao Ly, ngày nay là vùng bán đảo Triều Tiên.
Xứ Cao Ly hồi ấy với người Việt là một nơi hoàn toàn mới: tiếng nói khác, phong tục khác, cái lạnh cũng khác. Nhưng Lý Long Tường không chỉ là khách lạ ghé qua. Ông ở lại, học tiếng, hiểu người, gắn bó với vùng đất gọi là Ung Tân. Mỗi khi có cướp biển tới quấy nhiễu, ông cùng dân làng che chở cho xóm thôn, nên người dân quý mến vị tướng đến từ một dải đất phương nam.
Có một câu chuyện mà người dân nơi ấy còn nhắc mãi. Năm một nghìn hai trăm năm mươi ba, khi có quân Mông Cổ kéo tới, Lý Long Tường tuy đã già, tuổi xấp xỉ tám mươi, vẫn cùng dân giữ thành, giữ làng. Dân gian kể rằng mỗi ngày ông cưỡi một con ngựa trắng đi khắp các nẻo đường, động viên mọi người. Tấm áo bào, con ngựa trắng giữa khói lửa, hình ảnh ấy đẹp đến mức người dân trìu mến gọi ông là Bạch mã tướng quân, vị tướng quân cưỡi ngựa trắng. Ghi nhớ công ơn ấy, vua Cao Ly đổi tên vùng đất ông ở thành Hoa Sơn, nghĩa là núi hoa, và phong ông làm Hoa Sơn tướng quân.
Vậy mà Lý Long Tường chưa bao giờ quên nơi mình sinh ra. Theo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, ông trở thành thủy tổ của dòng họ Lý Hoa Sơn, dòng họ gốc Việt đầu tiên định cư ở Cao Ly. Lạ lùng và đẹp đẽ thay, dòng họ ấy đến nay vẫn còn con cháu nơi xứ người, đời nối đời nhớ tổ tiên mình đến từ một dải đất tên là Việt Nam, mỗi năm vẫn tổ chức lễ giỗ tổ. Và rồi cội nguồn ấy đã gặp lại nhau. Báo Thanh Niên kể lại, tháng ba năm một nghìn chín trăm chín mươi tư, một người hậu duệ đời thứ ba mươi mốt tên là Lý Xương Căn đã từ Cao Ly trở về thắp hương tại đền thờ nhà Lý ở làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh, sau gần tám thế kỷ xa cách.
Cả nhà mình thử nhắm mắt mà nghĩ. Một đoàn thuyền rời bến, tám trăm năm sau một người con trở về cúi đầu trước hương khói quê nhà. Biển thì rộng, năm tháng thì dài, nhưng tình quê hương trong lòng người vẫn không bao giờ phai. Đó là câu chuyện về hoàng tử Lý Long Tường, người đã đi thật xa mà lòng vẫn hướng về một mái nhà.