Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Hồ Hán Thương

0:000:00

Trong sân một tòa thành đá còn thơm mùi vữa và khói lò nung, có một cậu bé đứng ngước nhìn những bức tường mỗi ngày một cao thêm. Bên tai cậu, bà nội kể chuyện đổi mới, sửa sang; bà ngoại kể chuyện giữ gìn non sông. Hai câu chuyện cùng lớn trong lòng cậu, như hai dòng suối cùng chảy về một con sông. Cậu bé ấy là Hồ Hán Thương.

Theo học liệu mở VOER, mẹ của ông là một công chúa nhà Trần, còn cha ông là Hồ Quý Ly, một nhà cải cách nổi tiếng. Bên ngoại là hoàng tộc nhà Trần, dòng họ đã giữ gìn đất nước qua bao đời. Bên nội là dòng họ Hồ, dòng họ của những người mê sửa sang, đổi mới, mong cho dân no ấm hơn, học hành nhiều hơn. Ông lớn lên giữa hai dòng họ ấy, được thương yêu từ cả ông bà nội lẫn ông bà ngoại.

Khi đã trưởng thành, Hồ Hán Thương trở thành vị vua thứ hai của nhà Hồ. Theo bộ sử và các nguồn dẫn về nhà Hồ, ông lên ngôi năm một nghìn bốn trăm lẻ một, đặt niên hiệu là Thiệu Thành, rồi sau đổi thành Khai Đại. Cha ông là Hồ Quý Ly lui về làm Thái Thượng hoàng, vẫn cùng con coi sóc việc nước. Hai cha con cùng nhau lo cho dân, như một người dắt tay, một người tiếp bước.

Việc lớn nhất mà ông giúp cha là xây thành.

Cả nhà hãy hình dung một tòa thành dựng hoàn toàn bằng đá. Người ta phải tìm đá, đẽo đá, rồi xếp từng khối đá nặng hàng tấn lên cao, khít vào nhau mà không cần vữa. Theo Cổng thông tin điện tử Thành Nhà Hồ, năm một nghìn bốn trăm lẻ một, Hồ Hán Thương hạ lệnh cho các lò nung gạch để góp phần dựng tòa thành. Lửa lò đỏ rực ngày đêm, khói bay lên trời, và từng viên gạch, từng phiến đá lớn dần thành những bức tường vững chãi.

Tòa thành ấy có tên là Tây Đô, được chọn làm kinh đô của nước. Đó chính là Thành Nhà Hồ ngày nay, ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Trải qua hơn sáu trăm năm mưa nắng, những bức tường đá ấy vẫn còn đứng đó, cao lớn và lặng lẽ, như còn nhớ bàn tay của những người đã dựng nên mình.

Nhưng đá có vững đến mấy, một tòa thành chỉ thực sự sống khi trong đó người dân được ấm no.

Theo Cổng thông tin điện tử Thành Nhà Hồ, dưới thời ông, năm một nghìn bốn trăm lẻ một, nhà nước cho kiểm biên dân số cả nước. Ông sai người đi khắp nơi, gõ cửa từng nhà, ghi tên từng người, không phải để đòi hỏi, mà để biết dân mình có bao nhiêu mà lo cho đủ, như cha mẹ đếm con trước bữa cơm. Ông cũng chăm lo việc ruộng đất, và miễn giảm thuế cho những nhà nghèo không có ruộng cày. Trên những cánh đồng, lúa lại xanh, và trong nồi của những nhà khốn khó có thêm bát cơm.

Có một điều nữa mà ông rất coi trọng, đó là việc học.

Nhà Hồ tin rằng đất nước muốn mạnh thì phải có nhiều người tài. Theo Cổng thông tin điện tử Thành Nhà Hồ, năm một nghìn bốn trăm lẻ bốn, triều đình định lại phép thi, mở các kỳ thi để chọn người giỏi ra giúp việc nước. Quốc Tử Giám khi ấy là trường học lớn của triều đình, nơi có những bậc thầy giỏi giảng dạy. Đêm đêm, bên ngọn đèn dầu, những cậu học trò mài chữ, mong một ngày thi đỗ, được đem cái chữ của mình ra giúp dân, giúp nước.

Một vị vua trẻ tiếp nối cha, dựng thành đá, lo cho dân, mở đường cho con trẻ học hành, bằng tình yêu đất nước học được từ cả hai dòng họ.

Mai này, nếu cả nhà có dịp đến Thanh Hóa, hãy đặt tay lên những phiến đá rêu phong của Thành Nhà Hồ. Đá vẫn mát, vẫn im, nhưng bức tường mà ông góp sức dựng lên vẫn đứng đó, cao lớn giữa trời, kể tiếp câu chuyện của một vị vua trẻ đã thương đất nước này bằng cả hai dòng máu trong tim mình.

Câu chuyện gần đây