Vua Mạc Phúc Hải
Trời còn chưa sáng hẳn, một cậu sĩ tử nhỏ tuổi đã xách đèn lồng rảo bước trên con đường vào trường thi. Trong tay nải của cậu có một thỏi mực, một cây bút lông, và một niềm háo hức cứ đập rộn trong lồng ngực. Cả nhà ơi, hôm nay là ngày cậu đi thi.
Trời còn tối. Gió se se. Sương sớm đọng trên cỏ ven đường. Ánh đèn chao nhẹ theo từng bước chân. Phía trước, đã lố nhố bóng những người bạn cùng lứa, ai cũng ôm khư khư cái tráp đựng bút mực, mắt sáng rỡ. Họ đến từ nhiều làng quê khác nhau, mang theo bao đêm dài đèn sách.
Cậu sĩ tử ấy sống vào một thời mà triều đình rất quý người tài. Đó là thời của một vị vua tên là Mạc Phúc Hải.
Theo các tài liệu lịch sử, ông là vị vua thứ ba của nhà Mạc. Cha của ông là vua Mạc Thái Tông, tức Mạc Đăng Doanh. Ông nội của ông chính là Mạc Đăng Dung, người mở ra vương triều Mạc thuở trước. Vậy là ba đời ông cháu nối nhau coi sóc việc nước.
Ông lên ngôi vào năm một nghìn năm trăm bốn mươi, và ở ngôi trong khoảng sáu năm, đến năm một nghìn năm trăm bốn mươi sáu. Niên hiệu của ông là Quảng Hòa, một cái tên nghe đã thấy mong ước về sự rộng rãi và êm thuận. Sau khi ông mất ở kinh đô Thăng Long, người đời tôn ông là Hiến Tông.
Sáu năm thì không dài, cả nhà ạ. Vậy mà trong sáu năm ngắn ngủi ấy, ông vẫn kịp làm một việc khiến biết bao cậu học trò vui mừng. Ông cho mở những khoa thi, để tìm người tài giỏi ra giúp dân, giúp nước.
Ta hãy trở lại với cậu sĩ tử nhỏ của chúng ta. Cậu ngồi xuống trong trường thi, mài mực, đặt giấy, lắng nghe tiếng trống điểm. Cậu biết rằng, ở một nơi xa, có một ông vua đang chờ đón những người như cậu. Chỉ cần học giỏi, viết hay, thì con nhà nghèo cũng có thể đem cái chữ của mình ra giúp đời.
Trong sáu năm ở ngôi, vua Mạc Phúc Hải đã cho mở hai khoa thi như thế. Khoa thi năm một nghìn năm trăm bốn mươi mốt, người đỗ đầu là Nguyễn Kỳ. Khoa thi năm một nghìn năm trăm bốn mươi tư, người đỗ đầu là Vũ Khâm. Họ là những người học trò chăm chỉ đã vượt qua bao kỳ thi để thành tài.
Nhà Mạc vốn giữ lệ thi cử rất đều, cứ ba năm lại mở một khoa. Nhờ vậy, đời nào cũng có những cậu sĩ tử như cậu bé của chúng ta, xách đèn ra trường thi từ lúc trời còn tối. Suốt những năm tháng đóng đô ở Thăng Long, ròng rã từ năm một nghìn năm trăm hai mươi bảy cho đến tận năm một nghìn năm trăm chín mươi hai, hết lớp học trò này đến lớp học trò khác lại nối nhau xách đèn ra trường thi. Cha thi rồi đến con, con thi rồi đến cháu, cứ thế mà nối dài.
Vị vua này không chỉ lo chuyện đèn sách. Ông còn lo cho cả những người nông dân chân lấm tay bùn. Triều đình thời ông chăm việc chia cấp ruộng đất công cho dân cày cấy. Theo lệ cũ truyền lại, có ruộng lộc dành ban thưởng, lại có ruộng chia đều cho dân, cho lính, để ai cũng có mảnh đất mà gieo trồng.
Cả nhà thử hình dung mà xem. Một bên là cậu sĩ tử cặm cụi bên trang giấy, mơ ngày đỗ đạt. Một bên là bác nông dân ra đồng từ sáng sớm, trên thửa ruộng được chia. Người lo cái chữ, người lo hạt thóc, mà cả hai đều được một triều đình quan tâm, chăm chút.
Một đất nước biết mở rộng cửa trường thi cho người tài, lại biết chia ruộng cho người cày, thì lòng dân tự nhiên ấm áp. Học trò có chỗ để gắng công, nhà nông có ruộng để cấy hái. Mỗi người một việc, cùng nhau dựng nên những ngày yên lành.
Và thế là, mỗi mùa thi đến, lại có một cậu bé nào đó xách đèn ra đường từ lúc gà chưa gáy. Thỏi mực thơm trong tay nải, ánh đèn lung linh trên cỏ ướt, và cả một bầu trời mơ ước phía trước. Hình ảnh ấy, qua bao mùa lúa, qua bao đời người, vẫn còn đẹp mãi cho đến tận hôm nay.