Vua Lý Thần Tông
Chiều muộn, có một người lính buông áo giáp xuống bên hiên, rồi cầm lên cái cày đã gác lâu ngày trên vách. Anh chùi lớp bụi, ngắm lưỡi cày, mỉm cười. Ngày mai anh được về ruộng nhà mình. Mấy đứa nhỏ trong xóm chạy theo, hỏi rối rít rằng chú ơi, chú đi giữ nước, sao lại được về cày? Anh xoa đầu chúng, nói rằng nhà vua thương lính, cho chú đổi phiên về quê. Đó là một buổi chiều thời vua Lý Thần Tông.
Vị vua trong câu chuyện này có một thân thế đặc biệt. Ngài tên thật là Lý Dương Hoán, vốn là con của Sùng Hiền hầu, em trai vua Lý Nhân Tông. Vua Lý Nhân Tông không có con trai, nên đón cháu mình là cậu bé Dương Hoán vào cung, nhận làm con nuôi và lập làm thái tử.
Thế là một cậu bé không sinh ra trong cung vua, lại được chọn để nối ngôi. Khi hãy còn nhỏ, vào cuối năm Đinh Mùi theo âm lịch, Lý Dương Hoán lên ngôi, trở thành vua Lý Thần Tông. Ngài sinh năm một nghìn một trăm mười sáu, nên lúc khoác lên mình áo bào, ngài chỉ là một cậu bé hơn mười tuổi.
Thật ra, từ thuở mới lên hai tuổi, cậu bé ấy đã được đón vào cung nuôi dạy, chứ không lớn lên dưới mái nhà của cha mình là Sùng Hiền hầu. Và khi lớn lên giữa chốn cung đình ấy, người ta kể rằng ngài có tư chất thông tuệ, tính tình rộng lượng, biết sửa sang việc nước và biết dùng người hiền tài.
Trong những việc ngài làm, có một việc khiến người dân quê mến ngài nhất. Đó là chuyện những người lính được về nhà cày ruộng.
Thời xưa, giữ nước là việc nặng. Trai tráng trong làng phải đi lính, xa vợ con, xa thửa ruộng. Ở nhà chỉ còn người già và trẻ nhỏ, ruộng vườn thiếu người chăm, mùa màng cũng vắng vẻ hơn. Đi lính thì nước được giữ, nhưng việc nhà lại bộn bề. Đó là nỗi lo của biết bao gia đình.
Vua Lý Thần Tông là người khuyến khích nghề nông, và ngài đã dùng lại một cách làm thật khéo. Vào năm một nghìn một trăm hai mươi tám, vua cho sáu quân thay phiên nhau về làm ruộng theo lệ xưa. Người ta gọi cách làm ấy bằng một cái tên đẹp là ngụ binh ư nông, nghĩa là gửi việc binh vào việc nông, gửi người lính vào ruộng đồng.
Cách làm thật giản dị mà hay. Lính được chia phiên, cứ sáu tháng một lần lại được lần lượt về quê cấy cày. Phiên này về với ruộng vườn thì phiên kia ở lại canh giữ, rồi lại đổi cho nhau. Nhờ vậy, nước vẫn có người giữ, mà ruộng vẫn có người chăm.
Niềm vui của người lính ngày được về thật khó tả. Anh dựng cây giáo vào vách, đặt cái nón mê xuống thềm, hít một hơi thật sâu mùi rơm rạ quen thuộc. Hôm qua tay anh còn nắm chuôi giáo nơi cửa ải, hôm nay đã lại cầm chuôi cày trên mảnh ruộng nhà. Vợ anh gánh mạ ra theo, con anh chạy lon ton trên bờ. Cả cánh đồng lao xao tiếng người, tiếng nước, tiếng cười.
Giờ đây người lính ấy giữ nước được an lòng hơn nhiều, vì biết ở nhà ruộng không bỏ hoang, con không thiếu cơm. Nửa năm sau anh lại lên đường, lòng nhẹ tênh, vì hết phiên anh lại được về.
Lòng thương dân của vua còn đi xa hơn thế. Ngay khi mới lên ngôi, vua đã xuống chiếu đại xá. Những người dân có ruộng đất bị sung công đều được tha cả. Tấm lòng ấy của vua đã làm cho biết bao gia đình được thở phào nhẹ nhõm.
Người đời sau vẫn nhắc rằng chính nhờ cách gửi lính vào việc nông như thế, dân được đủ ăn, yên ổn làm ăn, triều đình lại bớt tốn kém mà quân đội vẫn mạnh. Một chính sách mà lo được cho cả người giữ nước lẫn người trồng lúa, thật là khéo léo và thương dân.
Ngày xưa, dân gian còn truyền nhau một câu chuyện cổ tích nhẹ nhàng quanh thân thế nhà vua, kể về một nhà sư hiền lành tên là Từ Đạo Hạnh. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết bà con kể cho nhau nghe bên bếp lửa, chứ không phải chuyện trong sử. Điều có thật, điều đáng nhớ, vẫn là một vị vua biết thương người lính, biết quý hạt thóc.
Rồi năm tháng trôi qua. Một buổi chiều quê hơn tám trăm năm trước. Người lính năm nào nay đã thành ông cụ tóc bạc, ngồi bên cây cày dựng ở góc sân, kể cho lũ cháu nghe rằng ngày xưa nhà vua đã cho ông luân phiên rời cửa ải về cấy lúa, để vừa giữ được nước vừa chăm được ruộng nhà. Lũ trẻ nghe mà mắt sáng long lanh. Câu chuyện về người lính được về với luống cày ấy đã đi qua bao đời, vậy mà nhắc lại vẫn nghe như còn tiếng người gọi nhau ra đồng, dưới một bầu trời quê hiền hòa của nước Việt mình.