Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Vua Lý Thần Tông

0:000:00

Chiều muộn, có một người lính buông áo giáp xuống bên hiên, rồi cầm lên cái cày đã gác lâu ngày trên vách. Anh chùi lớp bụi, ngắm lưỡi cày, mỉm cười. Ngày mai anh được về ruộng nhà mình. Mấy đứa nhỏ trong xóm chạy theo, hỏi rối rít rằng chú ơi, chú đi giữ nước, sao lại được về cày? Anh xoa đầu chúng, nói rằng nhà vua thương lính, cho chú đổi phiên về quê. Đó là một buổi chiều thời vua Lý Thần Tông.

Vị vua trong câu chuyện này có một thân thế đặc biệt. Theo trang Người Kể Sử, ngài tên thật là Lý Dương Hoán, vốn là con của một vị quan tên Sùng Hiền hầu. Vua trước là Lý Nhân Tông không có con trai, nên đón cậu bé Dương Hoán vào cung, nhận làm con nuôi và lập làm thái tử.

Thế là một cậu bé bình thường, không sinh ra trong cung vua, lại được chọn để nối ngôi. Năm một nghìn một trăm hai mươi bảy, khi hãy còn nhỏ, Lý Dương Hoán lên ngôi, trở thành vua Lý Thần Tông. Ngài sinh năm một nghìn một trăm mười sáu, nên lúc khoác lên mình áo bào, ngài chỉ là một cậu bé hơn mười tuổi.

Thử nghĩ mà xem, một cậu bé vốn không sinh ra nơi cung cấm, ngày thường vẫn quanh quẩn bên cha là Sùng Hiền hầu, bỗng một hôm được đón vào cung, được khoác áo bào, đặt vào hàng nối ngôi. Vậy mà khi lớn lên, người ta kể rằng ngài có tư chất thông tuệ, tính tình rộng lượng, biết sửa sang việc nước và biết dùng người hiền tài.

Trong những việc ngài làm, có một việc khiến người dân quê mến ngài nhất. Đó là chuyện những người lính được về nhà cày ruộng.

Cả nhà biết không, thời xưa giữ nước là việc nặng. Trai tráng trong làng phải đi lính, xa vợ con, xa thửa ruộng. Ở nhà chỉ còn người già và trẻ nhỏ, ruộng vườn thiếu người chăm, mùa màng cũng vắng vẻ hơn. Đi lính thì nước được giữ, nhưng việc nhà lại bộn bề. Đó là nỗi lo của biết bao gia đình.

Vua Lý Thần Tông đã nghĩ ra một cách thật khéo. Theo trang Nghiên Cứu Quốc Tế, vào năm một nghìn một trăm hai mươi tám, vua cho sáu quân thay phiên nhau về làm ruộng theo lệ xưa. Người ta gọi cách làm ấy bằng một cái tên đẹp là ngụ binh ư nông, nghĩa là gửi việc binh vào việc nông, gửi người lính vào ruộng đồng.

Cách làm thật giản dị mà hay. Lính được chia phiên, cứ sáu tháng một lần lại được lần lượt về quê cấy cày. Một nửa ở lại canh giữ, một nửa về với ruộng vườn, rồi lại đổi cho nhau. Nhờ vậy, nước vẫn có người giữ, mà ruộng vẫn có người chăm.

Niềm vui của người lính ngày được về thật khó tả. Anh dựng cây giáo vào vách, đặt cái nón mê xuống thềm, hít một hơi thật sâu mùi rơm rạ quen thuộc. Hôm qua tay anh còn nắm chuôi giáo nơi cửa ải, hôm nay đã lại cầm chuôi cày trên mảnh ruộng nhà. Vợ anh gánh mạ ra theo, con anh chạy lon ton trên bờ. Cả cánh đồng lao xao tiếng người, tiếng nước, tiếng cười.

Mà người lính ấy có biết không, anh giữ nước được an lòng hơn nhiều, vì biết ở nhà ruộng không bỏ hoang, con không thiếu cơm. Nửa năm sau anh lại lên đường, lòng nhẹ tênh, vì hết phiên anh lại được về.

Lòng thương dân của vua còn đi xa hơn thế. Theo trang Nghiên Cứu Quốc Tế, khi mới lên ngôi vua đã xuống chiếu đại xá. Những người dân từng bị thu mất ruộng đất đều được nhận lại ruộng của mình. Tấm lòng ấy của vua đã làm cho biết bao gia đình thở phào, lại có đất mà cày, có thóc mà ăn.

Đài Tiếng nói Việt Nam có nhắc rằng chính nhờ cách gửi lính vào việc nông như thế, dân được đủ ăn, yên ổn làm ăn, triều đình lại bớt tốn kém mà quân đội vẫn mạnh. Một chính sách mà lo được cho cả người giữ nước lẫn người trồng lúa, thật là khéo léo và thương dân.

Ngày xưa, dân gian còn truyền nhau một câu chuyện cổ tích nhẹ nhàng quanh thân thế nhà vua, kể về một nhà sư hiền lành tên là Từ Đạo Hạnh. Nhưng đó chỉ là truyền thuyết bà con kể cho nhau nghe bên bếp lửa, chứ không phải chuyện trong sử. Điều có thật, điều đáng nhớ, vẫn là một vị vua biết thương người lính, biết quý hạt thóc.

Cả nhà thử nhắm mắt lại mà hình dung. Một buổi chiều quê mấy trăm năm trước. Người lính năm nào nay đã thành ông cụ tóc bạc, ngồi bên cây cày dựng ở góc sân, kể cho lũ cháu nghe rằng ngày xưa nhà vua đã cho ông luân phiên rời cửa ải về cấy lúa, để vừa giữ được nước vừa chăm được ruộng nhà. Lũ trẻ nghe mà mắt sáng long lanh. Câu chuyện về người lính được về với luống cày ấy đã đi qua bao đời, vậy mà nhắc lại vẫn nghe như còn tiếng người gọi nhau ra đồng, dưới một bầu trời quê hiền hòa của nước Việt mình.

Câu chuyện gần đây