Ba Giai Tú Xuất
Hà Thành xưa, vào những buổi chiều muộn, khi nắng đã ngả vàng trên những mái ngói rêu phong và gió từ mặt hồ thổi vào mát rượi, các con phố cổ lại rộn lên đủ thứ âm thanh. Tiếng rao hàng, tiếng guốc mộc lộc cộc trên mặt đường, tiếng cười nói lao xao trước cửa những quán nước chè tươi. Và ở đâu đó giữa cái rộn ràng ấy, người ta lại kháo nhau về hai cái tên mà nghe đến là cả phố phải mỉm cười.
Đó là Ba Giai và Tú Xuất.
Đây là những giai thoại dân gian kể lại về hai con người tài hoa của đất kinh kỳ thuở trước. Chuyện không có ngày có tháng rõ ràng, người kể mỗi nơi một khác, thêm bớt cho thêm phần vui. Nhưng có một điều thì ai cũng nhớ, ai cũng kể giống nhau. Đó là hai ông thông minh, nhanh trí, và cái tài ấy thường dùng để bênh người nghèo, để trêu những kẻ cậy tiền cậy của mà coi thường thiên hạ.
Ba Giai tên thật là Nguyễn Văn Giai, là con thứ ba trong nhà, nên người ta quen miệng gọi là cậu Ba Giai. Còn Tú Xuất tên thật là Nguyễn Đình Xuất, vốn là người hay chữ, từng đi thi nhưng đường khoa cử cứ trắc trở mãi. Cả hai đều là nhà nho có tài mà không gặp thời, không ra làm quan, nên cứ thong dong giữa phố phường, lấy tiếng cười làm bạn. Dân gian quý hai ông lắm, mới truyền nhau câu nói rằng thứ nhất Ba Giai, thứ hai Tú Xuất, ý là trong cái tài nhanh trí dí dỏm của đất Hà Thành thì hai ông đứng đầu.
Vài mẩu chuyện sau đây sẽ cho thấy cái tài ấy ra sao.
Có một giai thoại kể rằng một tối nọ, Tú Xuất đi đường xa, ghé vào một quán trọ ven đường để nghỉ chân. Trong quán đã có một ông lái buôn mèo đến trước. Ông ta chiếm ngay chiếc giường cao, chỗ tốt nhất trong gian phòng, lại đem bao nhiêu lồng mèo xếp kín cả lối đi. Tú Xuất đến sau, đành nằm ở chiếc giường thấp bên dưới, ngay cạnh mấy cái lồng mèo cứ kêu ngoao ngoao suốt.
Chủ quán thấy khách mới đến phải nằm chật chội thì ái ngại, mới nhỏ nhẹ hỏi ông lái mèo có thể đổi chỗ cho khách, hay xếp gọn lồng lại cho rộng rãi hơn không. Ông lái mèo nghe vậy thì vênh mặt lên, bảo rằng ai đến trước thì nằm trên, ai đến sau thì nằm dưới, lẽ thường ở đời là thế, việc gì phải nhường. Tú Xuất chỉ cười, chẳng nói chẳng rằng. Nhưng trong bụng thì ông đã nghĩ ra một cách.
Đêm khuya, khi ông lái mèo đã ngủ say, tiếng ngáy vang cả gian phòng, Tú Xuất mới khẽ khàng ngồi dậy, rút nhẹ then từng chiếc lồng. Lũ mèo được sổ lồng, mừng rỡ chạy tán loạn khắp nơi. Con thì nhảy lên giường, con thì leo lên kèo, lên xà nhà, con thì chui xuống gầm, nằm lăn ra đất. Ông lái mèo giật mình tỉnh giấc, cuống quýt chạy đi chạy lại, hết vồ con này lại chộp con kia, mồ hôi nhễ nhại.
Lúc ấy Tú Xuất mới thong thả ngồi dậy, khêu ngọn đèn cho sáng, rồi nhìn quanh mà khen rằng mèo nhà bác khôn thật, biết lẽ phải lắm. Con nào ra trước thì ngồi trên cao, con nào ra sau thì nằm dưới thấp, đúng như lời bác nói lúc tối. Ông lái mèo biết mình bị trêu, mặt đỏ tía tai, nhưng còn mải bắt mèo nên chẳng cãi lại được câu nào. Chủ quán đứng ở cửa nghe được, cũng phải bụm miệng mà cười. Người nghe chuyện ai cũng thích, vì chỉ bằng một câu nói nhẹ nhàng, Tú Xuất đã trả lại cho kẻ không chịu nhường ai chính cái lý của ông ta.
Lại có một giai thoại khác, cũng có một chú mèo, lần này về tài chơi chữ của hai ông, mà nghe thì vui phải biết.
Số là trong một quán nước ven phố, bà chủ quán nuôi một con mèo tam thể béo tròn, suốt ngày nằm sưởi nắng bên thềm. Hôm ấy Ba Giai và Tú Xuất ngồi uống nước, vui chuyện, mới đố nhau rằng có làm cho con mèo kia chịu lên tiếng trả lời được không. Bà chủ quán nghe vậy thì bật cười, bảo rằng mèo thì chỉ biết kêu chứ biết gì mà trả lời, hai ông đừng có nói chuyện trên trời.
Tú Xuất chỉ cười, rồi quay sang con mèo, cất giọng hỏi rất nghiêm trang rằng này mèo ơi, cái lưng của mèo cong hay là thẳng. Con mèo bị hỏi, lại đang lim dim buồn ngủ, mới kêu lên một tiếng meo dài. Tú Xuất vỗ tay reo lên, bảo rằng đấy, mèo trả lời rồi đấy nhé, nó bảo lưng nó méo, mà méo thì đúng là cong chứ còn gì nữa.
Cả quán được phen cười nghiêng ngả. Bà chủ quán cũng phải lắc đầu chịu thua, vì cái tiếng meo của con mèo nghe đi nghe lại, quả thật giống hệt chữ méo trong tiếng mình, mà méo thì nghĩa là cong là vẹo. Hai ông chỉ mượn một tiếng kêu của con mèo mà bày ra được một trò chơi chữ tài tình, khiến người nghe vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Người Hà Thành xưa kể lại chuyện này, là để khen cái nhanh trí, cái tài bắt chữ bẻ vần của hai ông, nghe thì nhẹ nhàng mà đố ai theo kịp.
Cứ như thế, hết chuyện này đến chuyện khác, tên tuổi Ba Giai và Tú Xuất đi khắp phố phường Hà Thành. Đi đến đâu, hai ông cũng để lại một tiếng cười, một câu chuyện. Khi thì là một bài thơ trào phúng chê khéo mấy ông quan ăn của đút mà cứ làm ra vẻ thanh liêm. Khi thì là một câu nói dí dỏm làm xẹp cái thói khoe khoang của kẻ lắm tiền. Người giàu kẻ sang có tật thì sợ hai ông một phép, còn người dân thường thì lại quý, lại thương, vì hai ông chưa bao giờ đem cái tài của mình ra ăn hiếp người yếu thế.
Cái hay của hai ông không nằm ở chỗ giàu sang hay quyền chức. Hai ông nghèo, lại chẳng làm quan. Cái hay nằm ở chỗ trí khôn và tấm lòng. Trí khôn để nhìn ra cái buồn cười trong thói hợm hĩnh của người đời, và tấm lòng để luôn đứng về phía những người thấp cổ bé họng.
Tất nhiên, đây chỉ là những giai thoại dân gian, người xưa kể lại cho vui, mỗi nơi mỗi khác, chứ không phải là chuyện sử sách ghi chép từng ngày từng tháng. Có thể có những mẩu thật, có những mẩu là do người sau thêm thắt, gán cho hai ông cho thêm phần hấp dẫn. Nhưng cái còn lại, cái mà bao nhiêu đời người Hà Thành vẫn truyền nhau, chính là hình ảnh hai con người tài hoa, vui tính, lấy tiếng cười làm vũ khí hiền lành.
Cho nên mỗi khi nghe ai nhắc tới câu thứ nhất Ba Giai, thứ hai Tú Xuất, cả nhà mình hãy nhớ tới một Hà Thành xưa rộn ràng tiếng cười. Nhớ tới hai ông đồ nghèo mà thông minh, đi giữa phố phường, dùng chữ nghĩa và sự nhanh trí để bênh người ngay, để trêu kẻ kiêu. Và biết đâu, lần tới đi giữa phố cổ Hà Nội, nghe tiếng một con mèo kêu meo bên thềm nhà ai đó, cả nhà mình lại bật cười mà nhớ tới Ba Giai và Tú Xuất, hai người bạn vui tính của đất kinh kỳ thuở nào.