Trạng Lợn
Cả nhà thử tưởng tượng nhé. Có một chàng trai quê mùa, chữ nghĩa chẳng thuộc được mấy, sách vở chưa từng đọc thông, ấy thế mà cả thiên hạ một thời cứ răm rắp gọi là Trạng. Người ta tới xếp hàng nhờ ông xem bói, quan trên mời ông vào phủ, vua còn cử ông đi sứ sang tận nước người. Mà tài cán thật sự của ông là gì? Thưa, là gặp may. May từ đầu chí cuối, may đến mức ai nghe kể cũng phải bật cười.
Đây là một nhân vật truyện trạng dân gian, cả nhà ạ, do người xưa kể lại từ đời này sang đời khác cho vui cửa vui nhà. Không phải chuyện lịch sử có thật, không có ngày có tháng rõ ràng. Chỉ có một anh chàng hiền lành, hơi khờ khạo, và một chuỗi những lần ăn may không ai ngờ tới.
Chuyện kể rằng, ngày xưa ở làng Mạnh Chư, tục gọi là làng Dừa, thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, có một nhà làm nghề mổ lợn buôn lợn. Người cha tên là Dương Đình Lương, hiền lành chất phác, quanh năm tay dao tay thớt ngoài chợ. Nhà ấy sinh được một cậu con trai, đặt tên là Chung Nhi, tên đầy đủ là Dương Đình Chung.
Cậu Chung lớn lên khỏe mạnh, ăn được ngủ được, tính tình thật thà, nhưng học hành thì chậm lắm. Thầy dạy chữ nào quên chữ nấy, đọc trước quên sau. Người trong làng thấy nhà cậu làm nghề lợn, lại thấy chữ Chư trong tên cậu nghe gần với chữ Trư, nghĩa là con lợn, nên gọi đùa cậu là cu Lợn. Sau này khi cậu thành danh, cái tên Trạng Lợn cứ thế mà thành, gọi mãi cho tới bây giờ.
Khổ nỗi, anh chàng học không vào, ở nhà mãi cũng chẳng nên cơm cháo gì. Thế là Chung Nhi khăn gói lên kinh thành kiếm sống, gặp gì làm nấy. Rồi chẳng hiểu xui khiến thế nào, anh ta lại mở một cái quán xem bói nho nhỏ. Mà cả nhà biết đấy, anh ta có biết bói toán gì đâu. Chỉ là treo cái biển lên cho có, ai tới hỏi thì anh nhắm mắt đoán bừa, được chăng hay chớ.
Vậy mà số trời lại run rủi cho anh ta gặp may.
Một hôm, anh ngồi không trong quán, tình cờ nghe mấy ông quan đi ngang qua bàn tán với nhau rằng kỳ thi sắp tới có lẽ phải hoãn lại. Anh nghe lỏm được, bụng chẳng nghĩ ngợi gì sâu xa, chỉ buột miệng nói lại với mấy người khách ghé quán, rằng kỳ thi năm nay e rằng dời ngày. Ít lâu sau, đúng là kỳ thi hoãn thật. Thế là tiếng đồn nổi lên. Người ta xì xào với nhau rằng ở kinh thành có một ông thầy bói tài lắm, đoán đâu trúng đó. Khách kéo tới quán anh mỗi ngày một đông.
Rồi đến một chuyện làm tên tuổi anh vang xa hơn nữa. Chuyện ấy, người ta vẫn quen gọi là truyện Trạng Lợn xem bói.
Số là trong thành có một vị quan lớn, một hôm bị mất con ngựa quý. Con ngựa hay vô cùng, ngày đi ngàn dặm, vị quan thương tiếc đứng ngồi không yên. Nghe đồn trong kinh có ông thầy bói thần thông, ông liền cho người mời Chung Nhi tới phủ, nhờ gieo quẻ tìm ngựa.
Chung Nhi tới nơi mà bụng rối như tơ vò. Tìm ngựa thì biết tìm đâu ra. Anh có phép thuật gì đâu mà tìm. Đêm ấy, anh được dọn cho một gian phòng nghỉ trong phủ, nằm trằn trọc mãi không ngủ được, lo ngay ngáy chuyện sáng mai biết ăn nói thế nào với quan. Nằm mãi sốt ruột quá, anh bèn nhẩm lại mấy câu chữ học lỏm ngày trước cho đỡ buồn, trong đó có một câu kể tên các con vật nuôi trong nhà, nào ngựa nào trâu nào dê, lại có lẫn một chữ đọc lên nghe như tên người.
Có ngờ đâu, ngay dưới gầm giường anh đang nằm, lại có một kẻ trộm đang nấp. Chính tên này là kẻ đã lấy con ngựa, đêm nay lẻn vào phủ định trộm thêm, chẳng may chui nhầm vào đúng phòng ông thầy bói. Tên trộm ấy tên là Tự. Đang nín thở nằm im, bỗng nghe ông thầy bói nằm trên giường lẩm bẩm đọc ra một chữ nghe hệt như tên mình, hắn giật bắn cả mình. Hắn đinh ninh rằng ông thầy bói thần thông đã biết hết, đã gọi đích danh mình ra rồi.
Tên trộm sợ quá, run lẩy bẩy, bò ra từ gầm giường, quỳ sụp xuống lạy như tế sao, xin ông thầy tha mạng, lạy van ông đừng nói tên mình ra cho quan biết. Chung Nhi ban đầu cũng hết hồn, nhưng rồi anh trấn tĩnh lại thật nhanh, làm ra vẻ trầm ngâm như thể đã biết hết từ lâu. Anh gặng hỏi, thế là tên trộm khai ra tất cả, con ngựa đang giấu ở đâu, lấy đi lúc nào, đầu đuôi ra sao.
Sáng hôm sau, Chung Nhi ung dung bày bàn ra gieo quẻ trước mặt vị quan. Anh khấn vái, lắc lắc cái ống quẻ, làm bộ tính toán một hồi cho thật ra dáng thầy bói cao tay. Rồi anh thong thả nói ra nơi giấu con ngựa, đúng y như lời tên trộm đã khai. Quan cho người tới tìm, quả nhiên thấy con ngựa quý vẫn còn nguyên. Vị quan mừng rỡ khôn xiết, thưởng cho anh hậu hĩnh, lại đi đâu cũng khen ngợi ông thầy bói thần thông.
Cả nhà thấy buồn cười chưa. Anh chàng đâu có bói toán gì. Tất cả chỉ là một sự trùng hợp tình cờ, một chữ đọc lên đúng lúc, một tên trộm nhát gan tự mình khai ra. Vậy mà tiếng tăm Trạng Bói cứ thế lan đi khắp nơi, ai cũng tưởng anh là bậc kỳ tài.
Cứ thế, hết lần may này tới lần may khác, danh tiếng của Chung Nhi ngày một lớn. Người ta gọi anh là Trạng, mời anh vào chốn cung đình. Và rồi tới một ngày, triều đình cử anh đi sứ sang Trung Quốc, sang tận nước người để giữ thể diện cho nước nhà. Cả nhà nghe mà thương, một anh chàng chữ nghĩa lõm bõm, giờ phải gánh chuyện bang giao trọng đại, run là phải.
Đến ải Nam Quan nơi cửa khẩu, các quan nước Minh muốn thử xem sứ thần nước Nam tài cán ra sao, bèn bày ra mấy trò hóc búa để dò la. Họ treo lên một hình thập tự đan bằng gỗ, ngụ ý khoe rằng nước lớn của họ ngang dọc khắp đất trời, bốn phương tám hướng đều trong tay. Đoàn sứ ai nấy lo lắng, không biết đối đáp thế nào cho khỏi mất mặt.
Trạng Lợn ngắm nghía một hồi, rồi ung dung sai người lấy một vòng lụa tròn, đem lồng bao quanh lấy cái hình thập tự kia. Ý của anh là, nếu các ông cho rằng mình ngang dọc khắp trời, thì cái vòng tròn này của nước Nam lại bao trùm cả đất trời, ôm trọn lấy bốn phương của các ông ở bên trong. Các quan nước Minh nhìn nhau, không bắt bẻ được câu nào, đành chịu thua nước cờ ấy, trong bụng thầm phục sứ thần nước Nam quả là cao tay.
Vào tới trong triều, họ lại bày thêm một trò nữa. Họ dẫn anh tới một gian phòng bày biện cực kỳ sang trọng, có ghế ngồi uy nghi như chỗ của bậc tôn quý nhất, để dò xem sứ thần có dám ngông nghênh ngồi vào hay không. Trạng Lợn nhìn quanh, thấy thế ngồi ấy chẳng phải chỗ dành cho một sứ thần, bèn khéo léo từ chối không chịu ngồi, lựa lời nói rằng phận làm sứ thì phải biết giữ đúng lễ, đúng chỗ của mình. Lời lẽ vừa khiêm nhường vừa khôn ngoan, khiến các quan nước Minh lại một phen gật gù khâm phục.
Cả nhà để ý mà xem, cứ mỗi lần Trạng Lợn lâm vào thế khó, thì y như rằng lại có một may mắn, một cái nhanh trí ngây ngô nào đó cứu anh ra. Người khờ khạo, thật thà, mà sao việc gì rốt cuộc cũng xuôi chèo mát mái. Có lẽ người xưa kể chuyện này, ngoài chuyện chọc cười, còn muốn nhắn nhủ một điều dịu dàng, rằng ở hiền thì gặp lành, rằng cái phúc cái may đôi khi tìm tới những con người chất phác hiền lương.
Người ta bảo Trạng Lợn cứ thế mà giữ được tiếng thơm, được vua tin, được dân mến, sống một đời an nhàn cho tới lúc tuổi già. Không phải nhờ học rộng tài cao, mà nhờ tấm lòng ngay thẳng và một số may hiếm có trên đời.
Cho nên tới tận bây giờ, hễ thấy ai ăn nói có vẻ ba hoa mà rồi lại gặp may, người mình vẫn cười xòa mà nhắc tới cái tên Trạng Lợn. Nhắc tới anh chàng bán lợn ở làng Dừa năm xưa, chữ nghĩa chẳng có là bao, mà cứ hồn nhiên đi qua đời mình, gặp may hết lần này tới lần khác, để lại cho con cháu một chuỗi tiếng cười hiền lành, ấm áp, kể hoài không chán. Cả nhà mình, mỗi khi gặp chuyện trắc trở, cứ thử mỉm cười và nghĩ tới Trạng Lợn mà thêm tin rằng, biết đâu đấy, điều tốt lành cũng đang trên đường tìm tới mình.