Bá Nha và Tử Kỳ
Một tiếng đàn ngân lên, rồi không tắt ngay.
Nó cứ treo ở đó trong không khí, chậm, đầy, hơi khàn. Không phải một tiếng cao vút. Nghe như bên dưới nó có cái gì đang trôi, đang cuốn đi, loang rộng ra mãi. Như một mặt nước lớn đang chảy mà mắt không tìm thấy bờ.
Người gảy đàn không hé một chữ nào. Chỉ trong bụng ông, lúc mấy ngón tay đặt xuống dây, ông đang nghĩ tới một dòng nước.
Rồi có một giọng người cất lên ngay bên cạnh.
Hay quá. Cuồn cuộn như nước chảy.
Bàn tay trên dây đàn dừng lại.
Người vừa nói câu ấy không nhìn thấy dòng nước nào cả. Ông chỉ ngồi nghe. Vậy mà ông gọi ra đúng cái điều đang nằm im trong đầu người kia, cái điều chưa được nói thành lời, chưa được giải thích một câu nào.
Người gảy đàn tên là Bá Nha. Người ngồi nghe tên là Tử Kỳ. Chuyện của hai người cũ lắm rồi, cũ tới mức người Trung Hoa đã đặt nó xuống giấy từ hơn hai nghìn hai trăm năm trước, trong một bộ sách tên là Lã Thị Xuân Thu. Nghĩa là hai người trong chuyện còn ở xa hơn thế nữa. Và cái đoạn kể về họ ngắn thôi, vừa đủ mấy dòng.
Mà trước tiếng nước ấy, chỉ một lát trước, đã có một tiếng khác.
Lần ấy Bá Nha ngồi xuống, đặt cây đàn cầm nằm ngang trước mặt. Đàn cầm là loại đàn gỗ dài, dây căng dọc theo thân, người chơi gảy bằng đầu ngón tay. Tiếng nó không dội xa như trống, không réo rắt như sáo. Nó nhỏ, trầm, và ngồi gần thì nghe được cả tiếng ngón tay lướt trên dây.
Bá Nha gảy. Trong bụng ông nghĩ tới một ngọn núi.
Ông không nói ra. Không ai được báo trước rằng hôm nay sẽ có núi. Ông chỉ nghĩ tới núi, rồi để cái nghĩ ấy chảy xuống mười ngón tay.
Tử Kỳ ngồi nghe hết, rồi nói.
Hay quá. Vòi vọi như núi Thái Sơn.
Thái Sơn là tên một ngọn núi lớn, cái tên mà chỉ cần nhắc lên là người nghe đã thấy một khối đá dựng cao ngất trước mắt. Bá Nha sững người. Ông chưa nói một chữ nào về núi.
Rồi chỉ một lát sau, ngắn lắm, ông đổi ý trong bụng. Ông thôi nghĩ tới núi và nghĩ tới dòng nước đang chảy. Ông vẫn im. Và Tử Kỳ, vẫn ngồi đúng chỗ ấy, lại nói ra được tiếng nước.
Hai lần. Hai câu. Cả câu chuyện đi qua mấy nghìn năm nằm gọn trong hai câu đó.
Chuyện truyền tay nhau lâu quá nên lời cũng xê dịch đôi chút. Chỗ này người ta kể là vòi vọi như núi Thái Sơn, chỗ kia là chót vót như Thái Sơn và mênh mông như sông lớn. Chữ nghĩa nhích đi vài phân, còn cái lõi thì vẫn nguyên: cùng một ngọn núi, cùng một dòng nước.
Và chỗ này mới đáng nghe cho kỹ. Chuyện không kể rằng Bá Nha giỏi đàn còn Tử Kỳ may mắn được ngồi nghe. Chuyện kể rằng Bá Nha giỏi gảy đàn, còn Tử Kỳ giỏi nghe. Giỏi nghe. Cùng một chữ khen, dùng cho cả người đàn lẫn người nghe. Nghe cũng là một cái tài, đặt ngang hàng với cái tài kia.
Mà chuyện ấy không xảy ra một lần. Bá Nha nghĩ tới điều gì, Tử Kỳ cũng nhận ra. Lần nào cũng vậy.
Có một lần hai người đi tới chân Thái Sơn, phía sườn râm không có nắng. Trời đang yên thì mưa đổ xuống, mưa lớn và bất chợt, không kịp về đâu cả. Hai người tránh vào dưới một hõm đá.
Ngồi đó nhìn nước xối trước mặt, lòng Bá Nha nặng lên. Ông đem cây đàn ra và gảy.
Khúc đầu là mưa. Mưa dầm, mưa rơi mãi không thôi, thứ mưa làm người ta ngồi im. Khúc sau ông đẩy tiếng đàn đi thêm một bước, thành tiếng núi lở, tiếng đá rời ra rồi trút xuống ào ào.
Gảy xong khúc nào, Tử Kỳ cũng nói ra được đến tận cùng cái ý nằm bên trong khúc ấy. Không sót khúc nào.
Bá Nha đặt đàn xuống. Ông thở dài, và câu ông nói lúc ấy còn nguyên tới bây giờ.
Hay thật, hay thật, cái tai của ông. Ông tưởng ra điều gì thì đúng y điều đang ở trong lòng tôi. Vậy thì tôi còn biết giấu tiếng đàn của mình vào đâu nữa.
Đây mới là chỗ làm câu chuyện này sống dai đến thế. Nó không kể về một người đàn hay. Người đàn hay thời nào cũng có. Nó kể về cái cảm giác được hiểu mà không phải giải thích.
Cả nhà chắc đã gặp cảm giác ấy ở đâu đó rồi. Là khi mình mới nói nửa câu, người kia đã gật đầu rồi nói tiếp đúng nửa còn lại. Là khi mình đi học về, chưa kể gì cả, mà mẹ nhìn mặt một cái đã biết hôm nay có chuyện. Không cần trình bày. Không cần chứng minh. Không phải cố cho ai tin. Có người đã nghe ra rồi.
Bá Nha có một người như vậy. Đúng một người.
Rồi Tử Kỳ mất.
Chỉ vậy thôi, không thêm một chữ nào. Người ngồi nghe đàn ấy không còn nữa.
Bá Nha đem cây đàn ra, làm nó vỡ, cắt đứt dây, và từ đó cho tới hết đời không gảy một tiếng nào nữa. Không phải vì ông hết thương tiếng đàn. Mà vì ông cho rằng trên đời này không còn ai đáng để ông gảy đàn cho nghe.
Nghe tới đây dễ tưởng câu chuyện đọng lại ở một chỗ tối. Nhưng người xưa giữ nó suốt bao nhiêu đời không phải vì cây đàn vỡ, và chuyện cũng không hề dạy ai đặt cây đàn của mình xuống. Cái nó muốn nói ngược lại hẳn. Một người nghe được mình như thế thì quý đến mức ấy. Quý đến mức người ta kể lại, rồi kể mãi, đời này truyền sang đời khác, chỉ để nhắc rằng thứ ấy có thật và có thể gặp được.
Và người Việt mình vẫn đang nói tới hai người ấy mỗi ngày, mà phần lớn không biết mình đang nói.
Hai chữ tri âm. Tri là biết, âm là tiếng. Tri âm, nghĩa gốc, là nghe tiếng đàn mà biết được lòng nhau. Còn tri kỷ thì tri vẫn là biết, kỷ là mình: biết mình, hiểu mình. Ghép lại thành tri âm tri kỷ, cái cụm bốn chữ mà ông bà mình dùng để gọi người bạn hiểu mình nhất trên đời, người mà mình ngồi cạnh không phải cố gắng gì cả.
Hóa ra một nửa cụm từ quen ấy sinh ra từ một tiếng đàn. Từ đúng hai câu nói của một người ngồi nghe.
Cho nên lần tới, khi cả nhà đang nói dở một câu mà có người nói nốt hộ đúng ý mình, thì để ý một chút. Hoặc khi mình chỉ ngồi im thôi, mà bên cạnh có người hiểu được mình đang im vì cái gì. Đó chính là chỗ tiếng đàn ngày xưa còn ngân. Không ai phải giải thích lấy một chữ. Vậy mà nghe rõ như núi, như nước.