Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Kết nghĩa vườn đào

0:000:00

Một người bán chiếu. Một người bán rượu và mổ lợn. Một người đẩy xe hàng đi bán rong.

Sáng hôm ấy, ở một huyện quê gọi là huyện Trác, ba người đàn ông ấy còn chưa biết mặt nhau. Không ai có chức tước gì. Không ai giàu. Chỉ có ba cái nghề, ba cách kiếm bữa cơm, và một tờ giấy vừa được dán lên bức tường đầu chợ.

Người ta xúm lại đọc. Trong nước đang lúc rối ren, nên quan trên cho dán bảng khắp các huyện, gọi trai tráng đứng ra giúp giữ yên xóm làng.

Người bán chiếu đứng đọc rất lâu. Đọc xong, anh thở dài một tiếng.

Anh tên là Lưu Bị, tự Huyền Đức. Nhà nghèo, cha mất sớm, hai mẹ con nuôi nhau. Ngày ngày anh bện dép cỏ, đan chiếu, đem ra chợ bán, được đồng nào lại mang về cho mẹ. Nhà anh ở thôn Lâu Tang. Phía đông nam nhà có một cây dâu rất lớn, cao hơn năm trượng, tán xòe tròn tới mức nhìn từ xa cứ tưởng là cái lọng che trên một cỗ xe. Có ông thầy tướng đi ngang, ngước lên nhìn tán cây ấy rồi bảo nhà này về sau tất có người làm nên.

Buổi sáng trước bức tường dán bảng, người làm nên ấy mới chỉ là một anh bán chiếu đang thở dài.

Ngay sau lưng anh có tiếng quát lên, đại trượng phu không ra sức giúp việc chung, đứng đây thở than làm gì.

Người vừa quát là một người to lớn, tiếng nói vang như chuông đồng. Anh ta tên Trương Phi, tự Dực Đức, mấy đời sống ở đất Trác, có ít ruộng vườn, mở hàng bán rượu và làm nghề mổ lợn. Trương Phi vốn thích kết giao với người tứ xứ, thấy ai đứng thở dài là gai mắt.

Lưu Bị quay lại, không giận. Anh nói mình thở dài vì thấy dân trong vùng khổ mà sức mình thì mỏng. Nghe vậy Trương Phi đổi giọng ngay. Anh bảo nhà mình cũng có chút của, hai người góp lại chiêu tập trai tráng trong làng, còn hơn đứng đây than.

Hai người kéo nhau vào quán rượu đầu chợ ngồi nói chuyện.

Đang lúc ấy, một người đàn ông cao lớn đẩy chiếc xe hàng tới trước cửa quán, dừng lại nghỉ chân. Anh ta bước vào, ngồi xuống, gọi rót rượu cho nhanh, vì còn phải vào thành cho kịp ghi tên.

Lưu Bị ngẩng lên nhìn. Mặt đỏ, râu dài, dáng đứng vững như cây. Anh liền mời người ấy sang cùng bàn.

Người đẩy xe nói mình họ Quan, tên Vũ, tự Vân Trường, quê ở Giải Lương thuộc đất Hà Đông. Ở quê anh có một kẻ cậy thế ức hiếp người trong vùng. Anh đứng ra chống lại kẻ ấy, rồi phải bỏ quê mà đi. Năm sáu năm nay anh sống lang bạt, đẩy xe hàng qua hết vùng này tới vùng khác, nghe nơi đây đang gọi người thì tìm tới.

Ba người ngồi với nhau một buổi. Càng nói càng thấy hợp.

Rồi Trương Phi buột ra một câu mà mấy trăm năm sau vẫn còn được nhắc. Anh nói, sau trang trại tôi có một vườn đào, hoa đang nở rộ, sáng mai ta ra đó cáo với trời đất, ba anh em mình kết làm anh em, đồng lòng với nhau rồi hẵng tính chuyện lớn.

Hôm sau, ba người ra vườn đào.

Đào đang vào đúng độ rộ nhất. Hoa kín cả cành, kín cả lối đi, gió khẽ một cái là cánh hoa rơi lả tả xuống vai áo. Giữa vườn, họ bày lễ vật, thắp hương, rồi cùng lạy hai lạy.

Lời thề của họ nói rằng ba người tuy khác họ, nay đã kết làm anh em thì một lòng một sức, gặp người khốn khó thì đỡ, gặp người lâm nguy thì cứu, trên báo đền cho nước, dưới làm cho dân được yên. Và câu cuối cùng, câu mà bao đời nay nghe vẫn thấy nặng: không mong sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm, chỉ mong chết cùng ngày cùng tháng cùng năm.

Người thời ấy hay buộc lòng mình bằng những lời nặng như thế. Không phải để cầu điều dữ, mà là cách người lớn ngày xưa nói với nhau rằng từ nay ba số phận nhập lại làm một, sướng khổ có nhau, không ai bỏ ai giữa đường. Còn phần họ sống với nó suốt đời lại nằm ở mấy chữ đứng trước: thấy người khốn khó thì đỡ một tay.

Thề xong, ba người xếp thứ bậc. Lưu Bị làm anh cả, Quan Vũ làm anh hai, Trương Phi làm em út.

Rồi tới tiệc. Hơn ba trăm trai tráng trong vùng nghe tin kéo đến. Cả bọn ngồi ngay giữa vườn, uống một trận thật say, hoa đào rụng xuống chén, xuống vai, xuống tóc.

Sáng ra, ba anh em bắt tay vào việc và vấp ngay một chuyện rất đời thường. Người thì có rồi, nhưng ngựa không có, sắt để rèn đồ cũng không.

Đúng lúc ấy có người vào báo, ngoài đường có hai người khách đang lùa một đàn ngựa đi về phía trang trại.

Hai người khách ấy là lái ngựa lớn ở đất Trung Sơn, một người tên Trương Thế Bình, một người tên Tô Song. Năm ấy đường sá không yên nên họ phải dắt đàn ngựa quay về. Ngồi nghe ba anh em nói ý định của mình, hai người liền tặng luôn năm mươi con ngựa tốt, thêm năm trăm lạng vàng bạc và một nghìn cân sắt ròng.

Có sắt rồi thì gọi thợ.

Lò rèn đỏ lửa mấy ngày liền. Lưu Bị nhờ thợ giỏi rèn cho một đôi kiếm song cổ, hai lưỡi đi liền thành một cặp. Quan Vũ rèn một cây đao lưỡi cong như vành trăng, đặt tên là Thanh Long Yển Nguyệt đao, nặng tám mươi hai cân. Trương Phi rèn một ngọn mâu bằng thép dài một trượng tám.

Chuyện của ba người từ đó còn đi rất xa. Nhưng đoạn người ta nhớ lâu nhất thì lại nằm gọn trong khu vườn ấy, lúc ba người còn chưa có gì ngoài nhau.

Cảnh này nằm ở hồi thứ nhất của bộ Tam quốc diễn nghĩa, một pho tiểu thuyết dài một trăm hai mươi hồi, tương truyền do La Quán Trung soạn ra từ thế kỷ mười bốn. Sử sách chép về thời ấy thì không hề có chuyện ba người ăn thề trong vườn đào. Nghĩa là khu vườn này do người kể chuyện dựng lên. Vậy mà nó sống dai hơn rất nhiều điều có thật, bởi ai nghe tới đó cũng nhận ra trong lòng mình một mong muốn quen thuộc: được tự chọn lấy người thân cho mình.

Người Việt mình nhận cảnh ấy về làm của riêng từ lâu lắm rồi. Câu ấy chắc cả nhà đã nghe: kết nghĩa vườn đào. Trong tiếng Việt, nó dùng để nói về những người không chung máu mủ mà nhận nhau làm anh em, thương nhau như ruột thịt. Câu ấy quen tới mức nhiều người dùng cả đời mà không để ý nó bước ra từ một khu vườn ở tận đâu.

Hơn hai trăm năm trước, có một ông quan người Việt đi sứ sang phương bắc, tên là Nguyễn Đề, anh cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du. Trên đường đi, ông dừng lại ở chỗ người ta chỉ cho nhau là vườn đào năm xưa, rồi làm ngay tại đó một bài thơ chữ Hán. Trong bài, ông viết rằng ba người khác họ mà tình là tình anh em, và vườn đào ấy qua nghìn năm vẫn còn nguyên một mùa xuân.

Cho nên lần tới, khi nghe ai nói hai người bạn thân kia kết nghĩa vườn đào, hãy nhớ lại ba cái nghề của buổi sáng hôm ấy. Một người bán chiếu. Một người bán rượu và mổ lợn. Một người đẩy xe hàng đi bán rong. Ba người dưng, gặp nhau trước một tờ giấy dán trên tường, và sáng hôm sau đã đứng dưới những cánh hoa đào để nhận nhau làm ruột thịt.

Câu chuyện gần đây