Hỏa Diệm Sơn và chiếc quạt ba tiêu
Cái nóng chặn họ lại giữa đường.
Không phải cái nóng của một trưa mùa hè. Đây là thứ nóng làm mặt đường rung rinh như mặt nước, làm vành nón nóng đến mức không dám chạm tay. Bốn thầy trò đi thỉnh kinh đứng khựng lại, mồ hôi chưa kịp chảy đã khô. Gió thổi tới cũng là gió nóng.
Sách cũ chép cách đó chừng sáu mươi dặm có ngọn núi tên là Hỏa Diệm Sơn, nằm đúng trên con đường bắt buộc phải đi nếu muốn về phía tây. Núi cháy suốt tám trăm dặm, bốn mùa nóng như nhau. Chung quanh không mọc nổi một tấc cỏ. Người ta bảo ai liều đi qua thì dù đầu đồng mình sắt cũng chảy ra thành nước.
Lạ nhất là quanh vùng vẫn có người ở, có nhà, có bếp, có ông lão gánh bánh đi bán. Ngộ Không mua một cái rồi hỏi: đất cháy thế này thì bột gạo ở đâu ra mà làm bánh. Ông lão đáp, muốn biết thì phải đi cầu Tiên Quạt Sắt.
Ông kể cái lệ của cả vùng. Mười năm một lần, các nhà góp nhau lợn, dê, gà, ngỗng, hoa quả và rượu ngon, rồi cử người tắm rửa sạch sẽ, lặn lội tới tận núi tiên xin quạt giúp mấy cái. Đường đi về mất trọn một tháng, chừng một nghìn bốn trăm năm mươi dặm. Có một trận gió với một trận mưa, dân trong vùng mới kịp gieo hạt, kịp gặt, rồi lại chờ mười năm.
Chiếc quạt ấy gọi là quạt ba tiêu, làm bằng lá chuối. Quạt một cái thì lửa tắt. Quạt hai cái thì nổi gió. Quạt ba cái thì mưa đổ xuống. Ba nhịp ấy cả nhà nhớ giùm, lát nữa chúng sẽ quay lại. Người giữ quạt là bà La Sát, còn gọi là Thiết Phiến công chúa, vợ của Ngưu Ma Vương.
Ngộ Không xắn tay áo đi mượn quạt. Đếm thử xem chú phải đi mấy lần.
Lần thứ nhất, chú tới cửa hang, chắp tay chào rất đàng hoàng rồi ngỏ lời xin mượn. Bà La Sát không cho. Bà còn giữ một mối giận cũ về chuyện con trai mình. Hai bên lời qua tiếng lại, rồi bà rút chiếc quạt ra, phe phẩy đúng một cái.
Ngộ Không bay đi như chiếc lá khô, lộn nhào trong gió suốt một đêm, tám mươi bốn nghìn dặm, tới sáng mới rơi xuống Tiểu Tu Mi Sơn. Ở đó, Linh Cát Bồ Tát cho chú một viên định phong đan, ngậm vào rồi thì gió nào cũng không thổi đi được nữa.
Chú quay lại. Bà La Sát quạt một cái, chú đứng yên. Quạt cái nữa, chú vẫn đứng yên, lại còn cười. Bà lui vào đóng chặt cửa hang. Chú hóa thành con bọ bé xíu lẻn vào, quấy đến mức bà đành chịu thua mà đưa quạt ra.
Ngộ Không mừng rơn, vác quạt chạy tới chân núi rồi quạt một cái. Lửa không tắt. Lửa bốc cao hơn. Chú quạt cái nữa, lửa vọt lên gấp mấy lần, liếm cả vào lông chân chú. Chú phải quăng quạt mà chạy.
Đó là quạt giả. Bà La Sát đưa nó rồi để chú hí hửng mang đi.
Thổ Địa vùng ấy hiện ra, kể cho chú hai chuyện. Ngọn lửa này sinh ra từ mấy viên gạch của một lò luyện đan trên trời bị đạp đổ từ rất lâu, trong gạch còn than đỏ. Còn muốn có quạt thật thì phải nhờ tới Ngưu Ma Vương, đang ở tận Ma Vân Động trên núi Tích Lôi, cách đó hơn ba nghìn dặm.
Lần thứ hai, chú không đi bằng cửa trước nữa. Chú lẻn tới núi Tích Lôi, dắt trộm con thú mắt vàng lội nước của Ngưu Ma Vương, rồi hóa trang thành ông ta mà thong thả cưỡi về cửa hang cũ.
Bà La Sát ra đón mừng rỡ, kể lại như kể một trò vui chuyện đưa quạt giả cho con khỉ ấy, để nó mang đi quạt cho lửa càng to. Ngộ Không gật gù, rồi hỏi khéo quạt thật cất ở đâu. Bà lấy ra chiếc lá nhỏ bằng bàn tay, dạy luôn cách dùng: bấm vào sợi tơ đỏ thứ bảy trên cán, niệm một câu, quạt sẽ dài ra một trượng hai thước.
Có quạt thật trong tay, Ngộ Không hiện nguyên hình, cảm ơn một câu rồi đi thẳng.
Nhưng Ngưu Ma Vương về tới nhà, biết chuyện, liền chơi lại đúng cái mẹo ấy. Ông ta biến thành hình dạng Bát Giới, đón Ngộ Không giữa đường, nói rằng thầy sai ra phụ một tay vác quạt. Ngộ Không đang vui nên đưa quạt ngay. Người kia lắc mình một cái, trở lại nguyên hình, cầm quạt cười vang.
Chú bị lừa đúng bằng cái mẹo chú vừa dùng. Lần thứ hai coi như hỏng.
Lần thứ ba khác hẳn, vì chú không đi một mình. Bát Giới thật xách đinh ba tới, Thổ Địa dẫn đường. Cuộc đuổi bắt hóa thành cuộc thi biến hóa. Bên này hóa chim, bên kia hóa con chim lớn hơn. Bên này hóa hươu, bên kia hóa hổ. Rượt nhau khắp núi mà chưa ai chịu ai.
Đến khi Lý Thiên Vương và Na Tra hạ mây xuống giúp, Ngưu Ma Vương mới chịu dừng. Na Tra tháo sợi dây trói yêu, luồn qua mũi ông ta rồi dắt đi, y như dắt một con trâu ngoài đồng. Ngưu Ma Vương xin đừng làm hại mình, bằng lòng theo về đường Phật. Không ai bị thương, chỉ có một ông vua yêu bị dắt mũi trước mặt đông đủ thần tiên.
Rồi cửa hang mở ra. Bà La Sát bước tới, hai tay bưng chiếc quạt ba tiêu dài một trượng hai thước, tự mình đưa cho Ngộ Không. Bà gọi chú bằng một tiếng rất lạ tai sau ngần ấy chuyện, chú Tôn, và xin dâng cái quạt để chú làm cho xong việc. Rồi bà dặn thêm: muốn dứt hẳn gốc lửa thì phải quạt liền bốn mươi chín cái, sau đó lửa sẽ không bao giờ bùng lên nữa.
Lần thứ nhất chú bị lừa. Lần thứ hai chú đi lừa. Lần thứ ba, không ai giật của ai cả. Chiếc quạt được trao tận tay, cùng cách dùng nó.
Ngộ Không đứng trước ngọn núi cháy tám trăm dặm và quạt. Một cái, lửa lụi xuống. Hai cái, gió nổi lên mát rượi. Ba cái, trời chuyển màu. Rồi chú quạt cho đủ bốn mươi chín lần. Mưa đổ xuống. Chỗ có lửa thì mưa như trút, chỗ không có lửa thì trời vẫn trong veo. Nước thấm dần xuống thứ đất bao nhiêu năm không nuôi nổi một tấc cỏ.
Phần thưởng cuối chuyến này không phải là thắng một con yêu. Đó là một đám cháy được dập, và cả một vùng lại đặt được hạt giống xuống đất mà không phải đợi mười năm một lần.
Rồi Ngộ Không trả chiếc quạt lại cho bà La Sát, bảo nếu không trả thì thiên hạ sẽ chê mình nói mà chẳng giữ lời. Bà nhận quạt, niệm chú thu nó nhỏ bằng chiếc lá, ngậm vào miệng, rồi lặng lẽ đi ở ẩn tu hành.
Chuyện này nằm trong bộ Tây Du Ký, tương truyền là của Ngô Thừa Ân, viết ở Trung Hoa thế kỷ mười sáu. Người Việt mình quen bộ truyện ấy tới mức riêng ba tiếng Hỏa Diệm Sơn đã thành câu cửa miệng, dành cho một trưa hè đứng dưới mái tôn nóng rát mặt. Lần sau nghe ba tiếng ấy, cả nhà sẽ nhớ ra nó vốn là tên một ngọn núi, và nhớ luôn cái quạt lá chuối đã dập nó.
Còn con đường thì vẫn nằm đó. Chỗ trước đây không ai dám tới gần, giờ chỉ còn mặt đất ướt, vài sợi hơi nước mỏng bốc lên, và bốn thầy trò lặng lẽ đi qua.