Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Quan Vũ và ngọn nến thâu đêm

0:000:00

Một cây nến. Sáp trắng, ngắn hơn một gang tay, cắm trên chiếc đĩa nhỏ.

Cây nến nằm trong lòng bàn tay một người đàn ông rất lớn. Người ấy đứng ngoài một cánh cửa đóng, giữa hành lang tối của một nhà trạm ven đường. Sau cánh cửa là hai người phụ nữ ông có bổn phận giữ gìn.

Gió lùa qua hành lang. Ngọn lửa nghiêng đi rồi lại đứng thẳng. Sáp chảy xuống, đọng thành vệt trên đĩa. Ông không ngồi. Ông không dựa vào tường. Cây nến cứ thấp dần cho tới lúc trời hửng sáng, mà không ai thấy ông tỏ ra mệt.

Chuyện này người xưa chép trong bộ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, tương truyền do La Quán Trung soạn từ thế kỷ mười bốn. Cảnh cây nến nằm ở hồi thứ hai mươi lăm. Người cầm nến tên là Quan Vũ, tự Vân Trường, mà người Việt mình quen gọi là Quan Công. Ông sống ở thế kỷ thứ ba, nhưng đây là cảnh tiểu thuyết, không phải sử sách.

Muốn hiểu cây nến ấy, phải lùi lại trước đó một ngày, tới một gò đất.

Hôm ấy Quan Vũ đem quân ra khỏi thành Hạ Bì rồi bị chặn hết đường về. Tới chiều tối vẫn không quay lại được, ông đành đưa người lên một gò đất thấp. Quân của thừa tướng Tào Tháo vây kín chân gò. Xa xa, lửa cháy đỏ trong thành.

Sáng ra, có một người một ngựa phi lên gò. Không phải để đánh nhau. Người ấy bỏ đao xuống, xuống ngựa, chào hỏi đàng hoàng rồi ngồi xuống bên cạnh ông. Đó là Trương Liêu, một người quen cũ. Trương Liêu báo tin thành đã mất, nhưng không một người lính, một người dân nào bị hại, và gia quyến Lưu Bị đã có người canh giữ.

Rồi Trương Liêu nói một điều khiến Quan Vũ ngồi im rất lâu. Nếu hôm nay anh nằm xuống ở đây, anh mang theo ba cái lỗi. Anh đã thề sống chết có nhau với người anh kết nghĩa, mai kia anh ấy cần thì anh không còn. Anh ấy gửi cả gia quyến vào tay anh, anh đi rồi thì hai người chị dâu dựa vào ai. Anh giỏi võ lại đọc sách, mà đem cả đời đổi lấy một khắc gan dạ.

Quan Vũ cúi đầu nghĩ. Rồi ông ngẩng lên, và cả câu chuyện này treo vào câu ông nói. Anh nói ba cái lợi, thì tôi có ba điều kiện. Thừa tướng thuận đủ cả ba thì tôi cởi giáp. Thiếu một điều thôi, tôi thà chịu cả ba cái lỗi kia.

Điều thứ nhất, tôi chỉ về với triều đình nhà Hán, không phải về với thừa tướng. Điều thứ hai, hai người chị dâu tôi được cấp dưỡng đúng phần của anh tôi, và không một ai, trên hay dưới, được bước tới cửa các bà. Điều thứ ba, và đây là điều ông giữ chặt nhất: hễ tôi biết anh tôi ở đâu, thì dù nghìn dặm hay vạn dặm, tôi lập tức xin từ biệt mà đi.

Nghe tới điều thứ ba, Tào Tháo lắc đầu. Thuận như thế thì ta nuôi Vân Trường để làm gì. Nhưng ngẫm nghĩ một lúc, ông thuận cả ba. Quan Vũ còn xin lui quân ra mười dặm để vào thành thưa với hai người chị dâu. Một mưu sĩ can, sợ là mẹo. Tào Tháo gạt đi: Vân Trường trọng nghĩa, đã nói thì không lỡ lời. Rồi ông cho lui quân thật.

Đoàn người lên đường về Hứa Đô. Quan Vũ không cưỡi ngựa đi trước. Ông đi sát bên cỗ xe chở hai người chị dâu. Đêm ấy họ nghỉ lại nhà trạm, và phòng xếp cho họ chỉ có đúng một gian. Một gian, cho cả ba người.

Không ai cãi nhau. Không ai to tiếng. Quan Vũ chỉ lặng lẽ cầm lấy một cây nến, bước ra ngoài, khép cửa lại sau lưng, rồi đứng đó cho tới lúc trời sáng.

Đó chính là cây nến ở đầu câu chuyện. Người ta thử ông bằng một gian phòng, và ông trả lời bằng một đêm đứng ngoài cửa. Tào Tháo nghe kể lại thì càng thêm kính nể ông.

Về tới Hứa Đô, ông được cấp hẳn một tòa phủ. Việc đầu tiên ông làm là chia đôi nó thành hai viện, cắt mười người lính già canh cửa viện trong, còn mình ở viện ngoài. Vua Hán phong cho ông một chức tướng. Gấm vóc vàng bạc thừa tướng cho mang tới, ông bưng hết vào trong cho hai người chị dâu.

Nhưng phép thử thật sự tới vào một buổi tan tiệc.

Tiễn khách ra cổng phủ, Tào Tháo hỏi vì sao con ngựa của Quan Vũ gầy. Thân tôi nặng quá, Quan Vũ đáp, ngựa chở không nổi. Tào Tháo liền sai dắt ra một con khác.

Con ngựa ấy đỏ như một hòn than đang cháy, dáng cao lớn khác thường. Tào Tháo chỉ vào nó, hỏi ông có nhận ra không. Quan Vũ nhìn một cái là biết ngay, đó là con Xích Thố mà Lã Bố vẫn cưỡi ngày trước. Đúng là nó. Tào Tháo cho luôn cả yên lẫn cương.

Và Quan Vũ vái tạ hai vái.

Tào Tháo thấy vậy thì không vui. Ông nói thẳng: bao nhiêu lần ta cho người, cho vàng, cho lụa, chưa lần nào thấy ông vái. Hôm nay ta cho một con ngựa thì ông mừng, lại còn vái tới hai vái. Chẳng lẽ ông coi người thì rẻ mà coi con vật thì quý.

Quan Vũ đáp rất thật. Tôi biết con ngựa này một ngày đi được nghìn dặm. Nay may mà có nó, thì hễ biết anh tôi ở đâu, chỉ một ngày là tôi gặp được mặt anh. Tào Tháo nghe xong sững người, rồi tiếc. Vàng lụa không đưa ông tới gần anh mình hơn một bước nào. Con ngựa thì có.

Câu chuyện nhà mình dừng lại đúng ở chỗ đó, giữa sân phủ, bên con ngựa đỏ. Ba điều ông đặt ra hôm ở gò đất vẫn còn nguyên, không ai xóa đi điều nào. Áo mới, vàng bạc, tiệc lớn tiệc nhỏ, cả một tòa phủ rộng, không thứ nào chạm được vào điều thứ ba. Nó cứ nằm im trong lòng ông, cháy nhỏ và cháy đều, hệt như đốm lửa trên cây nến đêm nào.

Và đó mới là chỗ khó. Giữ lời giữa một nơi chiều chuộng mình đủ điều, mà vẫn nhớ mình đã hứa gì với ai, khó hơn nhiều.

Gương mặt ấy thì cả nhà đã gặp từ trước khi nghe câu chuyện này. Mặt đỏ, râu dài buông thành từng chòm, áo xanh, hai bên có hai người đứng hầu. Ông ngồi trong chùa Ông, trong hội quán, trong đền miếu, và trên những bàn thờ nhỏ kê ở góc nhà nhiều gia đình Việt.

Ở Hội An có ngôi miếu thờ ông, dân gọi là Chùa Ông, tên chữ Trừng Hán cung, do người Minh Hương dựng lên. Tấm biển gỗ trước miếu đề niên hiệu năm một nghìn sáu trăm năm mươi ba, và nay miếu là di tích quốc gia. Chữ khắc trong miếu không khen ông khỏe. Chúng khen bốn chữ khác hẳn: trung, tín, tiết, nghĩa. Gộp lại là giữ lời.

Cây nến trong hành lang nhà trạm thì cháy hết từ lâu lắm rồi. Nhưng lời hứa của đêm hôm đó vẫn còn, và nó còn lại theo một cách rất lạ: trong một gương mặt mà người ta thắp nhang trước, năm này qua năm khác, ở một xứ cách nơi xảy ra chuyện rất xa.

Nếu một đứa trẻ trong nhà đứng trước bàn thờ ấy mà chưa nhớ nổi trận đánh nào, cũng chẳng sao cả. Nhớ được chừng này là đủ: một người đàn ông rất lớn, đứng suốt đêm ngoài một cánh cửa đóng, cầm một đốm lửa bé xíu, đợi trời sáng, chỉ vì đó là việc đúng phải làm. Không ai bắt ông đứng, cũng không ai ngồi canh xem ông có đứng hay không. Ông tự canh lấy mình, và cây nến trong tay ông là người làm chứng duy nhất.

Câu chuyện gần đây