Ngu Công dời núi
Một ông cụ gần chín mươi tuổi đứng ở cửa nhà mình, nhìn hai ngọn núi chắn ngay trước mặt, rồi quyết định dọn chúng đi.
Không đi vòng. Không trổ một lối nhỏ men theo chân núi. Dọn hai ngọn núi ấy đi hẳn.
Ai nghe tới đó cũng nghĩ ông cụ đã lẫn. Người trong sách cũ nghĩ vậy. Người ngồi kể lại chuyện này cũng đã nghĩ vậy. Nhưng hãy để dành ý nghĩ đó lại một lát, vì phần hay nhất là câu ông cụ đáp lại người cười ông.
Sách cũ chép rằng hai ngọn núi ấy tên là Thái Hành và Vương Ốc. Chúng rộng bảy trăm dặm và cao muôn nhận. Nhận là cách người xưa đo chiều cao, một nhận chừng tám thước. Nhưng muôn nhận thì không phải một con số đo cho đúng. Chính người xưa cũng ghi rõ rằng đó chỉ là cách nói cho biết núi cao quá, cao đến mức chẳng ai buồn đếm nữa.
Hai ngọn núi nằm ở phía nam đất Kỳ Châu, phía bắc đất Hà Dương. Và nhà ông cụ nằm ngay đó, quay mặt vào núi.
Cái khổ của ông rất cụ thể, không hề to tát. Sườn núi phía bắc bít kín đường. Ra khỏi nhà phải đi vòng. Về nhà cũng phải đi vòng. Đi chợ, đi thăm người quen, gánh củi, dắt trẻ con, đều phải vòng. Cả một đời ông đã vòng như thế, và ông nhìn thấy con cháu ông rồi cũng sẽ vòng như thế.
Cho nên một hôm ông gọi cả nhà lại ngồi quanh, rồi nói ý mình. Ông muốn dồn hết sức người trong nhà để san phẳng chỗ hiểm ấy, mở một con đường thẳng thông sang phía nam đất Dự, đi tới tận bờ nam sông Hán.
Vợ ông là người nói thẳng đầu tiên. Bà bảo sức ông bây giờ dọn một cái gò đất nhỏ còn chưa nổi, thì làm gì được với Thái Hành và Vương Ốc. Rồi bà hỏi thêm một câu rất thực tế, câu mà bất cứ ai lo việc nhà cũng sẽ hỏi. Đào núi lên thì đất đá đổ vào đâu?
Ông cụ đáp rằng sẽ đổ ra mé biển Bột Hải.
Thế là công việc bắt đầu.
Ông dẫn theo ba người con cháu đủ sức gánh gồng. Họ đập đá, xới đất, xúc vào những cái sọt đan bằng tre và cỏ, rồi gánh đi. Không có xe, không có máy, không có gì ngoài mấy đôi vai và mấy cái sọt.
Có một người nữa cũng góp tay, và chi tiết này thì nghe một lần là nhớ mãi. Gần đó có một người vợ goá, nhà có đứa con trai nhỏ vừa đến tuổi thay răng. Thấy người ta gánh đất, cậu bé chạy chân sáo sang, giúp được gì thì giúp. Một đứa trẻ răng còn chưa mọc đủ, đi dọn hai ngọn núi.
Còn chuyện đường xa thì thế này. Từ chân núi ra tới mé biển Bột Hải, gánh một sọt đất đi rồi quay về, phải mất trọn một vòng nóng lạnh. Nghĩa là đi lúc trời còn ấm, và về khi tiết trời đã đổi hẳn. Một chuyến. Một sọt đất.
Cả nhà thấy chưa, đến đây thì ông cụ trông ngốc thật.
Người trong sách cũ cũng thấy vậy. Ở khúc sông gần đó có một ông cụ khác tên là Trí Tẩu. Hai cái tên ấy đặt cạnh nhau nghe rất lạ, vì Ngu Công nghĩa là ông cụ ngốc, còn Trí Tẩu nghĩa là ông cụ thông minh. Sách cũ gọi họ như thế ngay từ đầu, và cả câu chuyện này nằm gọn trong hai cái tên đó.
Ông Trí Tẩu cười, rồi ngăn ông cụ lại. Ông bảo cái sức tàn của tuổi già kia không phá nổi một sợi lông của núi, thì đất đá ngần ấy biết làm sao mà xong.
Nghe rất có lý. Nếu chỉ tính bằng sức của một người và bằng số năm còn lại của một người, thì ông Trí Tẩu đúng hoàn toàn.
Ông cụ than một tiếng dài. Rồi ông đáp, và câu đáp ấy là chỗ mà cả câu chuyện quay lại.
Ông nói lòng ông Trí Tẩu cố chấp quá, cố chấp đến mức không sao thông được, còn kém cả người vợ goá và đứa trẻ nhỏ đang gánh đất ngoài kia. Rồi ông nói tiếp. Dù ông có chết, thì ông vẫn còn con. Con lại sinh cháu. Cháu lại sinh con. Con cháu nối nhau không bao giờ dứt.
Còn núi thì không cao thêm được nữa.
Vậy thì vì lẽ gì mà không dọn phẳng được?
Ông Trí Tẩu không có gì để đáp lại.
Hãy nghe lại xem ông cụ vừa làm gì. Ông không hề nói mình khoẻ hơn núi. Ông cũng không giấu rằng mình chẳng còn sống được bao lâu. Ông chỉ đổi cách đếm. Ông Trí Tẩu đem đời một người ra đo hai ngọn núi, nên thấy chuyện vô lý. Ông cụ đem cả một dòng người ra đo, nên thấy chuyện chỉ là lâu. Núi to thật, nhưng núi đứng yên. Còn nhà ông thì cứ thêm người.
Cái ngốc nằm ở tên gọi. Cái tính toán nằm ở người bị gọi là ngốc.
Sách cũ kể tiếp rằng có một vị thần tay cầm rắn nghe được chuyện này. Vị thần ấy sợ việc kia làm mãi không dừng, nên đem tâu lên Thượng Đế. Thượng Đế cảm động vì lòng thành của ông cụ, bèn truyền cho hai người con của thần Khoa Nga xuống cõng hai ngọn núi đi. Một ngọn được đặt xuống Sóc Đông. Một ngọn được đặt xuống Ung Nam.
Từ đó, từ phía nam đất Kỳ Châu cho tới phía nam sông Hán, không còn một gò núi nào chắn đường nữa.
Chuyện dừng ở đó, trong một quyển sách rất cũ của Trung Hoa tên là Liệt Tử, ở thiên Thang Vấn. Sách ấy cũ đến mức tới nay người ta vẫn còn bàn nhau xem nó được chép thành hình như hiện giờ vào thời nào.
Còn chuyện thì đi rất xa, và nó sang tới nhà mình.
Người Việt dùng thẳng câu Ngu Công dời núi, không cần dịch, không cần giải thích. Bố mẹ nói với con lúc con ngồi trước một chồng vở dày. Người lớn nói với nhau lúc bắt tay vào một việc mà nhìn vào thấy ngợp. Và nó nằm cùng một họ với câu mà đứa trẻ Việt nào cũng thuộc từ bé: có công mài sắt có ngày nên kim. Hai câu nói, một cách nghĩ. Một thanh sắt to đùng, một cái kim bé tí, và ở giữa là bao nhiêu buổi ngồi mài. Hai ngọn núi cao muôn nhận, một cái sọt tre, và ở giữa là bao nhiêu chuyến gánh.
Nếu tối nay cả nhà có việc gì lớn quá, lớn đến mức chưa biết bắt đầu từ đâu, thì cứ nghĩ tới ông cụ đứng ở cửa nhà mình, trước hai ngọn núi cao muôn nhận, tay cầm một cái sọt tre.
Ông không đo việc bằng cái sọt. Ông đo bằng một điều mà ông Trí Tẩu quên tính: núi thì không cao thêm được nữa.