Cá chép vượt cửa Long Môn
Trên một cái đĩa gốm cổ có hình một con vật không giống bất cứ con nào ngoài đời thật.
Đầu nó là đầu rồng. Có sừng, có râu, cái miệng mở ra. Nhưng thân và đuôi thì vẫn nguyên là của một con cá. Vảy cá. Vây cá. Cái đuôi xòe ra như nan quạt, và người vẽ còn cẩn thận lồng cái đuôi ấy vào trong một cái vòng tròn.
Những chiếc đĩa như thế được vớt lên từ một con tàu đắm ngoài Cù Lao Chàm, gốm thế kỷ mười lăm, cái lớn đường kính chừng bốn mươi xăng ti mét, gần bằng một cái mâm. Con vật nửa cá nửa rồng ấy có cái vẽ bằng men lam dưới lớp men, có cái vẽ nhiều màu trên men, và có cả cái được dán vàng lá. Người xưa còn chạm nó vào đá và vào gỗ nữa. Ở mặt ngoài thành bậc đàn Nam Giao tại Hà Nội có một bức chạm đá cá hóa rồng bơi trên sóng nước, làm từ thế kỷ mười lăm. Ở đình Lỗ Hạnh vùng Hiệp Hòa, Bắc Giang, có một bức chạm gỗ thời Mạc, thế kỷ mười sáu, tạc hai con cá hóa rồng cùng chầu về mặt trời.
Chỗ lạ nằm ở đây. Không ai chạm một con vật đang dở dang vì vô tình. Tạc hẳn một con cá thì dễ hơn. Tạc hẳn một con rồng cũng dễ hơn. Vậy mà hết đời thợ này sang đời thợ khác, thợ gốm, thợ đá, thợ gỗ, đều chọn đúng cái tích tắc con cá chưa cá hẳn mà cũng chưa rồng hẳn.
Muốn biết vì sao lại thế, phải đi ngược về một câu chuyện rất cũ.
Người xưa bên Trung Hoa kể rằng ở một khúc Hoàng Hà có một ngọn núi tên là Long Môn, nghĩa là cửa rồng. Chuyện kể ông Vũ ngày trước xẻ ngọn núi ấy ra, và chỗ núi đứt để lại một khe hở đúng như một cái cửa, rộng hơn một lý. Lý là cách người xưa đo đường. Cả dòng Hoàng Hà dồn vào cái cửa đá đó rồi đổ xuống. Hai bên bờ, xe không qua được, ngựa cũng không qua được.
Câu chuyện ấy vốn được chép trong một quyển sách rất xưa tên là Tam Tần Ký, tương truyền do một người họ Tân soạn từ đời Hán. Quyển sách đó nay đã mất hẳn, không còn một bản nào trên đời. Chúng ta còn biết nó kể gì chỉ vì hơn một nghìn năm trước, người đời sau soạn một bộ sách rất lớn tên là Thái Bình Quảng Ký, và chép lại nguyên lời của nó vào trong ấy.
Sách chép rằng nước ở Long Môn xói lên như mũi tên bắn, và cái thế nước dữ ấy còn kéo dài xuôi xuống bảy lý mới chịu dịu lại. Cả nhà hình dung thử một dòng sông lớn bị bóp lại trong một cái cửa đá hẹp, xem nó gầm lên đến mức nào.
Và mỗi năm, đúng vào tháng cuối của mùa xuân, dưới chân cái cửa đá ấy lại xảy ra một chuyện.
Cá chép vàng kéo về.
Chúng về từ biển. Chúng về từ các con sông. Từ những khúc nước xa lắc mà không ai biết chúng nghe tin ở đâu, cá chép vàng bơi ngược lên, đua nhau kéo tới. Chúng chen chúc dưới chân Long Môn cho tới khi khúc nước phía dưới lúc nhúc những cái lưng vàng lấp lánh. Nhìn từ trên cao xuống, cả một vạt sông như vừa được ai rắc kim.
Rồi chúng bắt đầu ngược lên.
Con nào cũng chúc mũi vào chỗ nước trắng xóa nhất, quẫy đuôi thật mạnh, lấy hết sức mà chồm lên. Nước đẩy xuống, cá đẩy lên. Con nào chưa qua được thì dòng nước ôm lấy nó, đưa nó về khúc lặng phía dưới. Nó nằm đó thở một lúc, rồi lại quay đầu, lại đi lên. Suốt cả tháng cuối xuân, dưới chân Long Môn chỉ có tiếng nước ầm ầm và những cái đuôi vàng vỗ nước không nghỉ.
Sách xưa có chép một con số. Trong suốt một năm, số cá lên được Long Môn không quá bảy mươi hai con.
Bảy mươi hai, trong cả một dòng sông đầy cá.
Người chép sách không nói những con còn lại là dở, cũng không khen bảy mươi hai con kia là hơn ai. Sách chỉ đếm, rồi kể tiếp. Còn điều sách kể đi kể lại, năm này sang năm khác, là chúng vẫn về. Hết mùa xuân này lại mùa xuân sau, từ biển và từ các sông, cá chép vàng vẫn tìm tới đúng cái cửa đá khó nhất mà chúng biết, và vẫn thử.
Còn con vượt được thì sao.
Chuyện kể rằng nó vừa qua khỏi cửa đá, chưa kịp đi đâu, thì trên trời đã có mây kéo tới. Mây theo sau nó. Mưa theo sau nó. Rồi từ phía sau, một ngọn lửa trời chạm vào cái đuôi cá.
Ngọn lửa ấy không phải để làm đau. Nó là nét cuối cùng của cuộc đổi thay. Cái đuôi cá sáng lên rồi mất đi, và chỗ vừa lách qua cửa đá không còn một con cá chép nào nữa. Một con rồng đi ra, mang theo mây và mưa của riêng nó.
Vậy là đã rõ vì sao người thợ chọn cái dáng dở dang kia.
Trong cả câu chuyện, chỗ đẹp nhất không phải con cá lúc còn ở dưới, cũng không phải con rồng lúc đã bay lên. Chỗ đẹp nhất là một tích tắc ở đúng giữa cửa đá, khi đầu đã là đầu rồng mà đuôi vẫn còn là đuôi cá. Người thợ gốm giữ lại đúng tích tắc đó. Cái vòng tròn ôm lấy đuôi cá trên mấy chiếc đĩa vớt từ Cù Lao Chàm chính là cái cửa ấy, thu nhỏ lại bằng một nét bút. Người Việt mình gọi nó là vũ môn.
Người Việt cũng có một con cá chép của riêng mình, và con cá ấy cũng đi lên trời.
Cứ đến ngày hai mươi ba tháng Chạp, trong biết bao gian bếp Việt lại có một con cá chép được đặt vào chậu nước, rồi được mang ra sông ra ao mà thả, để ông Táo cưỡi nó mà về trời. Hai hình ảnh nằm cạnh nhau như hai người bạn cũ ngồi cùng một cái hiên: một con cá ngược nước dưới cửa đá trong sách xưa, một con cá chở ông Táo lên mây trong bếp nhà mình. Không ai kể trước, không ai kể sau. Chúng chỉ giống nhau ở chỗ cùng tin rằng một con cá bình thường vẫn có thể đi rất xa.
Cho nên lần tới, nếu gặp lại con vật nửa cá nửa rồng ấy, trên một cái đĩa cũ trong tủ bà, trên cánh cổng một ngôi đình, hay trên men chiếc bát hương ngày Tết, thì đừng nhìn cái đầu trước.
Hãy tìm cái đuôi.
Cái đuôi vẫn còn là đuôi cá. Nghĩa là người thợ đã cố ý dừng thời gian lại ở đây, ở đúng chỗ con cá còn đang cố. Và từ đó, cái dáng chưa xong ấy cứ ở lại trên gốm, trên gỗ, trên đá, kiên nhẫn đợi một người nhìn kỹ đủ lâu để nhận ra nó vẫn đang bơi.