Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Suối hoa đào

0:000:00

Ông là người vùng Vũ Lăng, sống bằng nghề đánh cá.

Hôm ấy ông chống thuyền ngược một dòng suối. Không phải con suối ông quen. Nước trong, chảy êm, và cứ hết khúc quanh này lại mở ra một khúc quanh nữa, nên ông cứ đi. Mái dầm khua đều đều. Hai bờ lùi lại phía sau, bờ nào cũng giống bờ nào.

Đến một lúc, ông không biết mình đã đi bao xa nữa. Không biết bến cũ còn cách mấy khúc suối, cũng không đoán được phía trước còn bao nhiêu khúc nữa thì hết dòng. Người xưa kể rằng chính lúc quên đường như thế, ông đánh cá mới gặp rừng đào.

Hai bên bờ, suốt một quãng dài vài trăm bước, chỉ có đào và đào. Không lẫn một cây nào khác. Không một bụi tre, không một thân cổ thụ nào chen vào giữa. Cỏ dưới chân cây thì thơm, tươi mởn. Hoa thì rụng lả tả, rơi xuống vai ông, rơi xuống mặt nước, trôi theo dòng thành một vệt hồng dài phía sau thuyền.

Ông ngồi im một lúc, lấy làm lạ lắm. Một khu rừng mà chỉ có đúng một loài cây, đó là chuyện không bình thường. Rừng thật thì bao giờ cũng chen chúc, cây nào len được thì len. Rừng này gọn gàng như thể có ai đã trồng, mà trồng từ lâu lắm rồi.

Lẽ ra tới đây ông nên quay mũi thuyền lại. Ông làm ngược lại. Ông chống tiếp, chỉ vì muốn biết rừng đào ấy hết ở chỗ nào.

Rừng đào hết ở đúng chỗ dòng suối hết.

Trước mặt ông là một quả núi chắn ngang, dựng đứng. Nước ứa ra từ chân núi, và ngay chỗ ấy, trong vách đá có một cái khe nhỏ. Ông nhìn kỹ vào trong khe. Hình như bên trong có ánh sáng.

Ông để thuyền lại đó, rồi lách vào.

Đoạn đầu hẹp lắm, hẹp đến mức chỉ vừa đúng một người đi. Hai vai cọ vào đá lạnh. Trên đầu là đá, dưới chân cũng là đá, và ông phải nghiêng người nhích từng bước. Cứ thế chừng vài chục bước.

Rồi khe núi mở ra.

Trước mắt ông là một vùng đất bằng phẳng, rộng thênh thang, sáng trưng. Nhà cửa dựng ngay ngắn, mái nào cũng lành lặn. Ruộng thì tốt, những thửa xanh mượt nối nhau tới cuối tầm mắt. Ao thì trong, in cả bóng trời xuống tận đáy. Dâu và tre trồng thành từng vạt quanh làng. Đường ngang lối dọc chạy giữa các thửa ruộng, nối nhà này với nhà kia.

Và từ đầu này sang đầu kia, người ta nghe rõ tiếng gà gáy, tiếng chó gọi nhau.

Một người vừa lách qua khe đá tối và chật, bước ra thì nghe tiếng gà. Không có âm thanh nào nói rõ hơn thế, rằng đây là một chỗ có người ở, và họ đã ở đây lâu rồi.

Người trong làng đang ngoài đồng, kẻ cày kẻ trồng, đi lại thong thả. Mấy cụ già tóc đã ngả sang màu vàng nhạt ngồi nghỉ ở đầu bờ. Trẻ con để tóc rủ xuống trước mặt, chạy quanh chân người lớn. Không ai vội cả. Trông ai cũng bằng lòng với cái ngày hôm ấy của mình.

Rồi họ trông thấy ông.

Cả làng sững lại. Không phải sợ, mà là sửng sốt, cái sửng sốt của những người chưa bao giờ nghĩ rằng có thể có ai bước được vào đây. Họ vây quanh hỏi ông từ đâu tới. Ông kể hết, kể từ cái bến ông chống thuyền đi cho tới cái khe đá ông vừa lách qua.

Nghe xong, một người liền mời ông về nhà mình. Họ rót rượu, mổ một con gà, làm cơm mời khách. Tin trong làng có người lạ lan đi rất nhanh, và cả làng kéo tới, ai cũng có câu muốn hỏi.

Rồi họ kể chuyện của họ. Tổ tiên họ ngày xưa gặp một đời loạn lạc, mới dắt vợ con và cả những người cùng làng tìm đường vào tận trong này. Vào rồi thì ở lại luôn. Không một ai ra nữa. Từ bấy đến giờ, làng này không còn qua lại với người bên ngoài nữa.

Rồi một người hỏi ông một câu.

“Bây giờ ở ngoài kia là đời nào rồi?”

Ông đánh cá ngồi lặng.

Đó không phải câu hỏi cho vui. Họ hỏi thật. Bao nhiêu đời người đã sinh ra và lớn lên trong thung lũng này, gánh nước ở cái ao ấy, gặt lúa trên những thửa ruộng ấy, mà chưa một ai bước ra ngoài xem thử ngoài kia đã đổi khác những gì. Những đời sau cái đời mà tổ tiên họ chạy vào đây, họ chưa từng nghe tới, dù chỉ một cái tên.

Thế là ông kể. Kể từng chuyện ông biết, ngoài kia bây giờ ra sao, người ta làm ăn thế nào. Cả làng ngồi nghe, và nghe xong thì chỉ thở dài.

Mấy hôm liền, nhà này mời xong thì nhà khác lại mời, nhà nào cũng có cơm có rượu bày ra. Rồi ông xin về.

Lúc chia tay, người trong làng dặn lại một câu rất nhẹ. Chuyện trong này, ra ngoài thì thôi, đừng kể với người ngoài.

Ông lách trở ra qua khe đá, tìm thấy chiếc thuyền vẫn nằm chờ ở chỗ cũ. Rồi ông chống thuyền theo đúng đường cũ mà về. Chỉ có điều lần này ông không đi như một người đi lạc nữa. Chỗ nào có hòn đá lạ, chỗ nào có gốc cây to, ông đều đánh dấu lại, chỗ này rồi chỗ kia, để lần sau còn tìm được lối vào.

Về tới phủ, ông tìm gặp vị quan lớn trong vùng, kể lại đầu đuôi. Vị quan cho người đi cùng ông, theo những cái dấu ấy mà tìm.

Suối vẫn là suối. Rừng vẫn là rừng. Mà những cái dấu thì không còn dẫn tới đâu nữa. Họ đi, rồi lạc, rồi đi mãi cũng không thấy quả núi có khe đá đâu. Cuối cùng cả đoàn đành quay về tay không.

Sau đó còn một người nữa muốn đi. Ở vùng Nam Dương có ông Lưu Tử Kí, tiếng là bậc hiền sĩ. Nghe được chuyện này, ông mừng rỡ, thu xếp để lên đường. Nhưng chuyến đi ấy rồi cũng không thành. Và từ đó về sau, không còn ai đi hỏi bến ấy nữa.

Chuyện này nằm trong một áng văn ngắn của Trung Hoa, tên là Đào Hoa Nguyên Ký, nghĩa là bài ghi về cái nguồn suối hoa đào. Người viết là nhà thơ Đào Uyên Minh, sống ở đời Đông Tấn, cách nay đã hơn một nghìn năm trăm năm. Bài ấy ngắn thôi, đọc chưa hết một chén trà nguội. Vậy mà từ đấy trở đi, cả một vùng Á Đông rộng lớn cứ đi tìm hoài cái thung lũng trong bài.

Người Việt mình thì giữ nó lại ngay trong tiếng nói hằng ngày. Hễ gặp một nơi nào yên quá, xanh quá, đẹp đến mức đứng ngay ở đó mà vẫn không tin là thật, thì mình gọi luôn nơi ấy là chốn đào nguyên. Nói thế là người nghe hiểu ngay, chẳng cần giải thích gì thêm. Ông bà mình cũng có một truyện cùng một hơi ấy, truyện chàng Từ Thức lạc vào động tiên, rồi trở về thì thấy quê nhà đã đổi khác hẳn.

Chốn đào nguyên là chỗ như vậy. Nó có thật trong một câu chuyện. Nó mở ra đúng một lần, cho đúng một người, vào cái hôm người ấy quên mất mình đang đi tới đâu. Rồi nó khép lại, và cái khe đá không cho ai đi qua lần thứ hai.

Cho nên nếu có hôm nào cả nhà đi thuyền ngược một dòng suối lạ, đi tới lúc không còn biết mình đã đi bao xa nữa, thì đừng vội quay lại. Cứ nhìn cho kỹ hai bên bờ. Xem thử có cây nào đang rụng hoa xuống mặt nước hay không. Người đánh cá vùng Vũ Lăng ngày ấy cũng đã bắt đầu đúng như thế.

Câu chuyện gần đây