Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Bánh coóc mò, chiếc bánh sừng bò của trẻ ngoan

0:000:00

Vừa tròn một tháng tuổi, em bé chưa ăn được lấy một hạt cơm. Em chỉ biết bú mẹ, ngủ say, rồi lại khóc ré lên đòi bế.

Ở vùng Trùng Khánh, Cao Bằng, trước ngày em tròn tháng, các chị em phụ nữ đã ngồi gói bánh nếp. Họ gói hết chiếc này đến chiếc khác, và phải tính thật khéo cho đủ từng chiếc.

Gói bánh cho ai, khi em bé còn chưa nếm nổi một hạt nếp? Mà ở một số nơi, cũng thứ bánh nếp nhọn đầu ấy lại là quà thưởng sau mùa gặt. Chiếc bánh gói cho em bé chưa biết ăn, với chiếc bánh thưởng cho đứa trẻ ngoan, có dính dáng gì tới nhau không?

Ngày tròn tháng của em có một cái tên riêng, gọi là khai bươn. Ở Cao Bằng, người Tày ai cũng đi qua lễ này khi vừa tròn một tháng. Từ ngày khai bươn, em bé được nhận là người của gia đình, của dòng họ. Ở vùng Trùng Khánh, lễ khai bươn không thể thiếu bánh coóc mò.

Trước ngày lễ, các chị, các mẹ ngâm gạo nếp rồi đãi thật sạch. Họ tước lá chuối thành từng dải, mỗi dải to cỡ ba ngón tay. Một chị cuộn dải lá thành cái phễu nhỏ, đổ nếp vào, buộc lạt lại. Chiếc bánh vừa gói xong có đầu chóp nhọn, trông như cái sừng bò. Tên bánh cũng nói đúng như thế: tiếng Tày gọi sừng là coóc, gọi bò là mò. Coóc mò, sừng bò. Bánh còn có tên là bánh sừng bò, đúng như nghĩa tiếng Tày, mà cả nhà đừng nghĩ tới chiếc bánh bơ ngoài tiệm nhé, đây là bánh nếp gói lá.

Đến ngày lễ, họ hàng lần lượt tới mừng. Người mang con gà mái tơ, người mang gạo nếp thơm, người mang chiếc võng tre, người mang cái địu thổ cẩm. Bà ngoại ẵm cháu đặt vào nôi, cất tiếng hát ru. Họ hàng bên nội, bên ngoại cũng hát ru cháu, lời ru nối nhau quanh chiếc nôi nhỏ.

Khi khách ra về, chủ nhà trao cho mỗi người ba chiếc bánh làm quà. Bởi thế, bánh phải gói đủ theo đúng số khách. Gói thừa thì phí. Gói thiếu, lỡ có người họ hàng ra về mà không có bánh, thì bị coi là thất lễ. Bánh trong ngày tròn tháng ấy không phải để em ăn. Bánh theo khách về nhà.

Bà ngoại lấy tấm thổ cẩm địu cháu lên lưng, mang theo một túi bánh coóc mò, đi ra ngõ. Gặp ai, bà cũng bán cho một hai chiếc. Người nhận bánh rút tiền ra trả bà. Tiền trao, bánh nhận. Nhưng đó chỉ là một cuộc mua bán giả vờ, theo phong tục xưa.

Người ta gọi cuộc mua bán ấy là bán cái bé để mua cái lớn. Không ai bán em bé cả. Thứ bà bán chỉ là mấy chiếc bánh, còn thứ bà mong mua về là điều may cho cháu. Thầy Tào là người các nhà mời về làm lễ, đặt tên cho em bé ngày tròn tháng. Một thầy Tào ở Trùng Khánh lại gọi gọn hơn nữa: bán dại, mua may.

Lại có một người lớn tuổi, học cao, được cả bản kính trọng. Người ấy cầm ô che cho em bé, đưa em ra đường, mang theo cả sách vở, như báo trước ngày em đi học chữ. Sau buổi ra ngõ ấy, em bé đã là người của xóm làng.

Chiếc bánh mai kia thưởng cho trẻ ngoan sau mùa gặt cũng bắt đầu từ thứ gạo nếp ngon trồng trên nương. Một chị vo nếp bằng nước khe suối, vo đi vo lại tới khi nước trong veo, rồi ngâm vài giờ cho hạt mềm. Chị giã nhỏ lạc sống, trộn đều với nếp, thêm một chút muối.

Lạt buộc bánh, người ta chẻ từ cây giang hay cây mỡ, thật mỏng, thật đều. Sợi lạt phải vừa mềm vừa dai, buộc vào mới khỏi rách lá.

Lá dong hay lá chuối cũng được chị cuộn thành phễu như thế. Đổ nếp vào rồi, chị vỗ nhẹ cho chặt, gấp mép lá xuống, buộc lạt.

Các cụ già vẫn bảo, buộc lạt là khâu quan trọng nhất. Buộc lỏng tay, nước lọt vào, bánh sẽ nhão. Buộc chặt quá, hạt nếp không nở được, bánh mất dẻo. Không lỏng, không chặt, vừa tay là được.

Gói xong, chị ngâm bánh vào nước lạnh. Lúc đầu, những bọt tăm li ti cứ sủi lên mặt nước. Chị chờ cho tới khi mặt nước lặng hẳn, không còn sủi tăm nữa.

Xong rồi, chị xâu bánh thành từng cặp, từng chùm nhỏ, thả vào nồi luộc chừng hai tiếng đồng hồ. Bếp lửa, nồi sôi là việc của người lớn.

Chín rồi, bánh mang màu xanh nhạt của lá. Bóc ra, nếp dẻo, thơm mùi gạo nương, thơm mùi lạc. Có người cứ thế mà ăn, chẳng chấm gì. Có người chấm mật ong, mật mía, hay chút đường.

Người Tày gói bánh, người Nùng cũng gói. Bánh có ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, cho tới tận Bình Liêu bên Quảng Ninh. Mỗi nơi làm một khác: có nơi gói không nhân, có nơi có nhân, có nơi trộn thêm đỗ đen hay đỗ xanh. Ở Bình Liêu, Tết đến, người ta hay gói bánh không nhân để giữ được lâu, buộc thành từng xâu rồi mới luộc. Mỗi xâu bánh, với họ, như người trong nhà quây quần bên nhau.

Theo lệ xưa, ngày đầy tháng hay thôi nôi, dù rơi vào mùa nào, người Tày thường làm bánh coóc mò. Em bé nào rồi cũng tròn một tuổi.

Ở Thái Nguyên, trong lễ thôi nôi, người lớn chỉ đặt chiếc bánh vào bàn tay nhỏ xíu của em. Kèm theo là lời chúc: hay ăn chóng lớn, ngoan ngoãn, mạnh khỏe. Mới một tuổi, lời chúc đã có hai chữ ngoan ngoãn.

Ngoài chợ phiên, quanh năm, bánh được bày bán thành chùm, thành cặp. Các bà, các mẹ đi chợ hay mua bánh về làm quà cho con, cho trẻ nhỏ. Ở Võ Nhai, bên Thái Nguyên, bánh coóc mò từ lâu đã là quà của trẻ nhỏ trong ngày lễ, ngày Tết.

Sau mỗi vụ thu hoạch, ở một số nơi, người ta lại gói bánh coóc mò để mừng mùa lúa mới. Những chiếc bánh ấy còn là phần thưởng cho trẻ ngoan, những đứa trẻ biết phụ giúp việc nhà, việc đồng áng.

Ở Trùng Khánh, ngày em bé tròn tháng, bà ngoại bán bánh ngoài ngõ. Người mua rút tiền ra trả, để điều may tìm về với cháu.

Sau mùa gặt, ở những nơi gói bánh thưởng trẻ ngoan, chiếc bánh coóc mò đến với một đứa trẻ mà chẳng ai rút ra đồng nào. Có lẽ đứa trẻ đã trả từ trước rồi, bằng những ngày phụ giúp việc nhà, việc đồng áng vừa sức mình.

Câu chuyện liên quan