Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Hội thổi cơm thi làng Thị Cấm

0:000:00

Bên phải ngôi đình làng Thị Cấm có một đồn binh dựng bằng tre và lá. Đồn đứng gọn bên sân, mà bên trong không có lấy một người lính. Sáng mùng tám tháng Giêng, đồn vẫn lặng im chờ. Nó chỉ có việc khi tiếng trống mở cuộc thi nổi lên.

Làng Thị Cấm, ngày xưa tên là Hương Canh, nay ở phường Xuân Phương, Hà Nội. Hằng năm, cứ đến mùng tám tháng Giêng âm lịch, sân đình lại mở hội thổi cơm thi, xem đội nào nấu được niêu cơm ngon nhất. Năm hai nghìn hai mươi mốt, hội làng có tên trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Thật ra, hội đã bắt đầu từ hôm trước. Sáng mùng bảy, các cụ trong làng mở cửa đình, chiều làm lễ. Rồi sáng mùng tám, các cụ bà dâng hương trước ban thờ.

Chừng mười giờ, sân đình bắt đầu rộn lên. Người ta khiêng cối đá ra, dựng chày gỗ bên cạnh, ôm từng ôm rơm vàng vào giữa sân. Mấy người ngồi vặn rơm thành những chiếc vòng tròn, lót dưới đáy cối. Có vòng rơm đỡ, cối đá đứng thật vững.

Hàng nghìn người kéo về dự hội, cả dân làng lẫn khách phương xa, từ các cụ tóc bạc đến các em nhỏ. Người lớn đứng kín quanh sân.

Xưa kia, cả làng chia làm bốn giáp. Mỗi giáp cử ra một đội chừng mười người, cả trai lẫn gái, đội nào mang màu nấy. Ngày trước, người vào đội phải là người chưa vợ, chưa chồng. Bây giờ, làng chỉ cần người khỏe mạnh, và nhà không có tang.

Trước khi thi, các đội và dân làng cùng thắp hương dâng ông thành hoàng, vị tướng Phan Tây Nhạc mà làng thờ trong đình.

Tương truyền, vào đời vua Hùng thứ mười tám, ông là một vị tướng khỏe mạnh, giỏi cả văn lẫn võ. Nhà vua giao cho ông cầm quân đi dẹp giặc.

Còn cuộc thi nấu cơm thì từ đâu mà có, mỗi người kể một khác. Có người kể rằng khi quân của ông đi qua đất Hương Canh, dân làng xin theo, nên ông mở cuộc thi để chọn người giỏi lo cái ăn cho cả quân. Cũng có người kể rằng cuộc thi diễn ra ngay trong quân, có thưởng, vì lính đi đường phải được ăn đúng bữa.

Chuyện làng kể tiếp rằng, xong chuyến cầm quân ấy, ông ở lại làng. Có bản kể ông dạy dân cấy lúa, dệt vải. Có bản lại kể ông cùng vợ là bà Hoa Dung dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt cửi. Khi ông mất, dân làng thờ ông làm thành hoàng, và chọn ngày mùng tám tháng Giêng để mở hội.

Thắp hương xong, luật thi vang lên giữa sân. Từng đội lên bốc thăm. Lá thăm định cho mỗi đội phần thóc nào, chiếc chày nào, cái cối nào, cái niêu nào. Mỗi đội nhận đúng một cân thóc, cả bốn đội cùng một thứ thóc như nhau. Không ai được hơn ai, chỉ có tài là khác. Cả cuộc thi chỉ gói trong chừng một giờ đồng hồ. Trong đồn tre lá bên phải đình, mỗi đội đã có một em từ mười hai đến mười bốn tuổi đứng chờ.

Khoảng mười một giờ, trống nổi lên. Cuộc thi bắt đầu.

Trước cửa đình, những chàng trai khỏe mạnh của mỗi đội vào chỗ kéo lửa, bên một nắm rơm vò rối làm bùi nhùi, một thanh tre và mấy sợi giang dẻo dai. Lửa là việc của họ, trước mắt cả làng. Rồi họ kéo, qua rồi lại, qua rồi lại, không ngơi tay.

Tiếng reo hò quanh sân dậy lên từng đợt. Rồi từ một nắm bùi nhùi, một sợi khói mỏng bốc lên. Các anh thổi, khói bùng thành lửa. Đội nào có khói, có lửa trước là thắng phần này. Có lửa rồi, các anh mang ngọn lửa về chỗ nấu của đội mình.

Cùng lúc ấy, đồn binh không lính cũng vào việc. Trống vừa nổi, các em lao ra khỏi đồn tre lá, chạy một mạch tới giếng thiêng của ngôi miếu làng, phía sông Nhuệ. Có bình nước đầy rồi, các em lại chạy về. Chạy nhanh thôi chưa đủ, bình phải còn đầy khi về tới nơi. Em nào mang về bình nước đầy trước nhất thì đội em ấy thắng cuộc chạy nước.

Ở chỗ cối đá, chày gỗ cũng đã nện xuống. Người trong đội thay nhau nâng chày, thình thịch, thình thịch. Thóc trong cối bong dần lớp vỏ trấu. Người sảy, người sàng cho trấu bay đi. Họ lại đổ gạo vào cối giã tiếp, đến khi hạt gạo trắng ra. Có người ngồi nhặt từng hạt sạn lẫn trong gạo. Có người đem gạo đi vo cho sạch.

Người đứng bếp là những người phụ nữ khéo tay nhất trong đội. Gạo vào niêu, niêu lên lửa, nước sôi lục bục. Khi nước trong niêu gần cạn, người nấu nhấc niêu xuống. Họ phủ lên miệng niêu một mảnh vải và một lớp giấy, cho tro khỏi lọt vào. Rồi họ vùi niêu vào đống tro rơm còn lẫn than hồng, để cơm chín cho đều.

Nhưng các đội đâu chỉ vun một ụ tro. Họ vun thêm mấy ụ tro rơm khác, trông giống hệt ụ thật, mà bên dưới chẳng có niêu nào. Niêu bị tìm ra sớm quá, cơm có khi còn sượng, hạt gạo chưa chín tới lõi. Niêu giấu khéo thì người tìm phải dò lâu hơn, cơm trong niêu có thêm chút nữa để chín tới.

Phải đợi chừng một nén hương cháy hết, các cụ già trong làng mới lên đường đi tìm. Vị quan của hội thi cầm cây gậy, dò vào từng ụ tro. Cùng đi có một người bưng chiếc mâm để đón bốn chiếc niêu, một người cầm ô che cho mâm. Thêm một người cầm chiếc trống khẩu nhỏ. Mỗi lần quan dừng trước ụ tro của một đội, người ấy lại đánh một tiếng tùng.

Gậy dò vào một ụ, chẳng thấy gì. Dò sang ụ khác, vẫn chẳng có gì. Cả đội đứng nín thở. Đến khi niêu thật lộ ra, cả sân mới reo lên. Đội ấy lau sạch bên ngoài niêu rồi mới dâng lên mâm.

Các cụ xới cơm từ bốn niêu ra bốn chiếc bát, dâng lên trước ban thờ thành hoàng. Xong rồi, các cụ chấm cơm của từng đội ngay trước mặt cả làng.

Cơm ngon phải trắng, phải dẻo, phải thơm. Cơm mà khê cháy dưới đáy, mà nát bết, hay hạt còn sượng cứng thì khó mà được khen.

Gần trưa, các cụ tế lễ rồi trao giải cho các đội ngay trước ban thờ. Sau cùng, cả làng làm lễ tạ ơn thành hoàng. Các đội chia cơm thi cho bà con trong làng. Ai được chia cũng mong một năm no đủ, bình yên. Quanh sân, người ta còn kéo co, ném vòng, đánh cờ tướng và đập niêu.

Hội tan. Đồn binh tre lá lại vắng, y như lúc sáng. Nhưng hôm nay, đồn đã có quân. Quân ấy là mấy em lao đi lấy nước, là các anh kéo lửa, là những người giã gạo, thổi cơm. Theo chuyện làng kể, ông tướng năm xưa cũng cần đúng những người lo được cái ăn như thế. Bốn giáp đã về nhà. Đồn vắng, mà quân thì chẳng thiếu một ai.

Câu chuyện liên quan