Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Bánh gừng người Chăm, nửa càng cua nửa củ gừng

0:000:00

Nhìn từ đầu này, nó giống một chiếc càng cua đang giương lên. Nhìn sang đầu kia, nó lại giống một củ gừng vừa nhổ khỏi luống, khúc khuỷu và mập mạp. Thân nó vàng óng, bên ngoài phủ một lớp áo trắng mỏng.

Con cua thì phải biết bò ngang. Thứ này chẳng bò đi đâu cả. Củ gừng thì phải nằm dưới đất. Thứ này lại chẳng vướng một hạt đất nào. Những ngày lễ, ở các làng Chăm miền Nam Trung Bộ, người ta đặt nó ở một chỗ rất trang trọng. Chỗ ấy là bàn thờ.

Trên bàn thờ có một chiếc trụ tròn, làm bằng gỗ hoặc bằng đất sét, dán giấy màu. Quanh trụ cắm những que tre nhỏ. Đầu mỗi que tre ghim một cái vừa giống càng cua, vừa giống củ gừng. Chiếc trụ đứng đó như một cây nhỏ trĩu quả vàng. Bên cạnh còn có bánh tét, có bánh gang tay.

Thứ nửa càng cua, nửa củ gừng ấy ăn được. Nó là một chiếc bánh.

Tiếng Việt gọi nó là bánh gừng. Người Chăm gọi nó bằng tiếng của mình là ginrong laya. Cái tên cũng chia làm đôi, y như chiếc bánh. Nửa đầu, ginrong, là cái càng, như chiếc càng con cua. Nửa sau, laya, là củ gừng. Chỉ cần gọi tên bánh lên là đã tả được dáng bánh.

Bánh còn một cái tên thứ hai, nghe chẳng giống cua, cũng chẳng giống gừng chút nào. Cái tên ấy có cả một câu chuyện đi kèm. Nhưng trước hết, phải làm ra bánh đã.

Một phụ nữ Chăm ở Tịnh Mỹ bảo, trong các thứ bánh truyền thống của người Chăm, chẳng thứ nào làm kỹ, làm lâu bằng bánh gừng. Ở những làng Chăm như Tịnh Mỹ hay Ma Lâm, phụ nữ vẫn làm thứ bánh ấy. Còn ở vùng Ninh Thuận cũ, nay thuộc Khánh Hòa, người ta bảo phụ nữ Chăm ai cũng biết làm.

Có làng, mỗi năm làm bánh một lần, như một việc chung của cả làng. Phụ nữ là người nặn bánh, nhưng cả làng cùng góp tay. Người chọn nếp, người giã bột, người thắng đường.

Người chọn nếp xem kỹ từng nắm. Nếp phải thơm, hạt to, trắng, không một hạt gãy. Chọn xong, người giã đem nếp giã thành bột, rồi phơi cho bột khô hẳn.

Tới hôm làm bánh, người lớn dội nước sôi vào bột khô, cho bột dẻo ra, dễ nặn. Có người đập trứng, đánh mãi cho tới khi trứng nổi bọt lăn tăn. Họ trộn bột vào trứng, thêm gừng tươi, thêm đường, thêm một chút men rượu. Cho bao nhiêu trứng, bao nhiêu đường, thì mỗi nhà một khác.

Các chị nhồi bột thật kỹ, vì bí quyết nằm ở lúc nhồi. Bột phải thật mịn, thật dẻo, không còn chút mùi tanh nào của trứng. Nhồi xong, các chị bỏ bột vào chiếc cối nhỏ mà giã. Thình thịch, thình thịch. Giã xong, các chị chia bột thành từng phần nhỏ.

Rồi tới lúc các chị trổ tài. Cái khéo của phụ nữ Chăm hiện rõ nhất ở việc nặn bánh. Mỗi chị tách từng nắm bột nhỏ, nặn hoàn toàn bằng tay thành hình củ gừng. Đôi khi, người nặn cầm thêm con dao nhỏ hay chiếc thìa nhỏ, tỉa thêm một nét. Chiếc nào cũng nặn bằng tay, nên trên mâm chẳng chiếc nào giống chiếc nào.

Ngày nay, giữa mâm củ gừng, thỉnh thoảng lại thấy một chú cá hay một nhành san hô. Có khi là một hoa văn, có khi là một hình may mắn, cũng do tay các chị nặn ra. Nhưng nhìn khắp mâm, củ gừng vẫn đông nhất.

Trong làng có những bà đã làm bánh hơn nửa thế kỷ. Có bà vẫn dặn các cô gái trẻ cùng dòng họ phải nhớ cách làm bánh, nhớ cái nghề của bà, của mẹ để lại.

Chảo dầu trên bếp đã nóng, và việc bên chảo là việc của người lớn. Chị đứng chảo thả tỏi giã nát vào cho dầu dậy mùi thơm, rồi thả từng chiếc bánh xuống. Dầu reo xèo xèo. Chị cầm đôi đũa và chiếc sạn, ép nhẹ mặt trên, mặt dưới, giữ cho bánh nguyên dáng. Bánh chín dần, vàng óng lên, cứng lại và giòn.

Ở bếp bên kia, người thắng đường đã nấu xong nồi nước đường cùng gừng tươi. Người lớn nhúng ngay những chiếc bánh còn nóng vào nước đường, cho bánh láng mịn. Xong, họ bày bánh ra mâm, đặt ở chỗ thoáng gió. Lớp đường khô dần, thành một lớp áo trắng mỏng, cho bánh giòn hơn, để được lâu hơn.

Bánh khô rồi, nguội rồi, ai cắn một miếng cũng nghe giòn rụm. Ngọt dịu trước, rồi mùi gừng thoảng lên, ấm ấm, hơi cay nơi đầu lưỡi.

Các chị ghim từng chiếc bánh lên que tre, cắm quanh chiếc trụ tròn, đưa lên bàn thờ. Cây bánh ấy đứng đó trong những ngày Katê, khi người Chăm theo đạo Bàlamôn mở hội lớn nhất trong năm, tạ ơn vua chúa xưa và ông bà tổ tiên. Trong những ngày ấy có một ngày các nhà cúng ông bà ngay trong nhà mình.

Ngày Katê, cũng như ngày cưới, người ta đặt bánh gừng trên hết, ở chỗ cao nhất trên bàn thờ tổ tiên. Các thứ bánh khác đều xếp thấp hơn. Con cháu dâng bánh lên ông bà, mong một đời sống ấm no và hạnh phúc. Họ còn mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Người Chăm quan niệm rằng, trong lễ cưới, mỗi thứ bánh mang một ý. Bánh tét tượng trưng cho chú rể. Một thứ bánh khác tượng trưng cho cô dâu. Còn bánh gừng gắn hai người lại với nhau, cho âm dương hòa hợp. Chiếc bánh nửa càng, nửa gừng ấy nói về vợ chồng thủy chung, một lòng thương nhau.

Chữ thủy chung ấy dẫn về cái tên thứ hai của bánh: bánh giận hờn. Cái tên ấy đi cùng một câu chuyện xưa mà người Chăm kể cho nhau nghe.

Chuyện rằng, ngày xưa có một người vợ, chồng nàng đi xa trên biển. Ngày ngày, nàng thương chồng, ngóng chồng về. Nàng làm bánh gừng. Chiều nào, nàng cũng mang những chiếc bánh ấy xuống bãi biển, thả từng chiếc xuống nước cho sóng đưa đi. Nàng nhờ cá, nhờ tôm mang bánh tới cho chồng, mang theo cả lời nhắn mong chồng sớm về.

Chiều này qua chiều khác, nàng vẫn thả bánh, mà người chồng mãi chưa thấy về. Nàng cứ ngồi trên tảng đá bên bờ biển mà chờ. Chờ mãi, chờ mãi, thương mãi, rồi nàng hóa thành đá. Những chiếc bánh của nàng cũng hóa thành san hô, nhiều hình, nhiều màu, dưới đáy biển Cà Ná.

Một đầu giương càng như cua. Một đầu khúc khuỷu như gừng. Còn dáng thứ ba thì phải nghe người Chăm kể mới thấy. Dưới biển Cà Ná, trong lời kể, bánh của nàng hóa thành san hô. Trên bờ, các chị lại nặn san hô thành bánh.

Câu chuyện liên quan