Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Xoài cát Hòa Lộc và hạt xoài của ông tá điền

0:000:00

Hạt của một trái xoài ngọt, gieo xuống đất, chưa chắc đã mọc thành một cây cho trái ngọt. Trái xoài có ngọt đến đâu, cái hạt cũng không hứa trước được.

Người Hòa Hưng vẫn truyền nhau chuyện mấy hạt xoài của một người làm ruộng tên là Nguyễn Văn Lời.

Vùng đất ấy nằm bên bờ bắc sông Tiền, gần cây cầu Mỹ Thuận. Hồi đầu thế kỷ hai mươi, nơi đây có làng Hòa Lộc, thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho. Về sau, làng Hòa Lộc nhập với làng Mỹ Hưng và làng Mỹ Thuận, thành xã Hòa Hưng. Đất Cái Bè bây giờ thuộc tỉnh Đồng Tháp. Còn cái tên làng cũ thì vẫn sống trong tên một thứ trái cây, xoài cát Hòa Lộc.

Ngày trước, ở làng quê bên sông này có một cái lệ. Hễ có thứ trái cây nào thật ngon, hay thật hiếm, người ta thường mang lên đình dâng cúng trước. Cúng xong, trái ấy mới được chia cho những người lo việc làng.

Ông Lời không làm trên đất của nhà mình. Ông làm lụng trên ruộng vườn của một ông chủ. Người làm ăn như thế, ngày xưa gọi là tá điền.

Một hôm, như có người kể, ông chủ mang về nhà mấy trái xoài. Vỏ trái mỏng tang. Thịt xoài mịn, ngọt đậm. Ông Lời thích thứ xoài ấy quá, bèn xin mấy trái về để lấy hạt đem trồng.

Lại có một câu chuyện khác, ông Nguyễn Văn Khoa nghe từ chính cha mình. Ông Khoa từng làm chủ tịch xã Hòa Hưng. Theo lời người cha, người nếm thứ xoài ấy trước là một ông hội đồng tên Chí, ở làng Mỹ Hưng, sát bên Hòa Lộc. Sau một buổi lễ ở đình, ông hội đồng mang xoài về nhà, rồi nhờ ông Lời đem hạt gieo xuống đất.

Ông Lời làm công cho ông hội đồng, người cha kể tiếp, và được cho cất một căn nhà trên một khoảnh đất trong vườn. Trên khoảnh đất ấy, ông ươm lên được bốn cây xoài, có một cây mọc ngay trước nhà. Mấy cây xoài cứ thế lớn lên, rồi ra trái.

Về sau, theo câu chuyện ấy, ông Lời trở về Hòa Lộc. Ông mang theo hạt của những trái ngon trên mấy cây ấy, gieo xuống đất Hòa Lộc. Cây lên tốt. Người cha bảo tiếng thơm của xoài Hòa Lộc bắt đầu từ đó.

Cũng theo người cha, những cây xoài đầu tiên ông Lời trồng vừa cho trái thì chính quyền người Pháp thời ấy mở một hội thi chọn trái cây ngon. Năm một nghìn chín trăm lẻ hai, trong câu chuyện ấy, xoài nhà ông Lời được nhận giải là trái ngon.

Một năm khác lại được người trong vùng nhắc tới, năm một nghìn chín trăm ba mươi. Khi ấy, có một người tá điền ở Hòa Lộc mang giống xoài này về trồng trong vườn nhà mình. Cây cho nhiều trái, vừa thơm vừa ngọt. Rồi đến những năm một nghìn chín trăm bốn mươi, như người ta kể, xoài ấy đoạt giải cao ở các kỳ thi trái cây mà người xưa gọi là đấu xảo.

Từ đó, như người làng vẫn truyền nhau, xoài cát Hòa Lộc trở thành lễ vật người làng dâng lên thần đình Hòa Lộc.

Đất ở đây được sông Tiền bồi thêm phù sa mỗi năm. Trời chia hai mùa rõ rệt, một mùa mưa và một mùa khô. Mùa khô lại rơi đúng vào những ngày trái xoài đang tích đường, nên xoài chín có vị ngọt thanh.

Trên cây, người trồng xoài bọc trái vào bao, để giữ cho lớp vỏ mỏng được đẹp, lại bớt sâu bệnh.

Trái xoài ấy thon và dài. Phía cuống tròn trịa, phía đuôi nhọn, phần bụng cong nhẹ. Lúc còn non, vỏ xoài màu xanh. Khi chín, vỏ ngả sang màu vàng tươi, mỏng lắm, ngoài mặt phủ một lớp phấn trắng mịn.

Thịt xoài bên trong chắc, dày và mịn. Xoài ít xơ, cũng không nhiều nước. Vị xoài ngọt mà dịu.

Nhà khoa học Nguyễn Minh Châu từng đứng đầu Viện Cây ăn quả miền Nam. Ông có lần nói rằng, nếu được chọn một loại trái cây đẹp, hút mắt nhất, ông sẽ chọn xoài cát Hòa Lộc. Theo ông, một trái nặng chừng bốn trăm năm mươi gam là cỡ chuẩn nhất.

Từ năm hai nghìn lẻ chín, cái tên xoài cát Hòa Lộc được giữ riêng cho xoài trồng trong vùng được bảo hộ ở Cái Bè.

Năm hai nghìn mười chín, có mấy người viết báo tìm đến khu vườn của ông Khoa. Ông chỉ cho họ xem hai cây xoài. Ông kể rằng khoảng năm một nghìn chín trăm ba mươi, người em trai thứ mười của ông Lời cưới cô Ba, người cô của ông Khoa. Trong lễ vật nhà ông Lời mang sang có một mâm xoài. Hạt của những trái xoài trong mâm ấy được gieo trong khu vườn của gia đình ông. Hai cây trước mặt mọc lên từ lần gieo hạt ấy.

Khi ấy, cả hai đã ngoài bảy mươi năm tuổi, và được xem là những cây xoài Hòa Lộc già nhất. Thân mỗi cây to bằng một vòng tay ôm. Lớp vỏ cây dày chừng ba lóng tay người lớn. Hồi ấy, hai cây đứng cách mép sông Tiền chừng hai mươi bước. Mùa xoài trước đó, mỗi cây vẫn cho chừng một trăm ký xoài, nhiều hơn cả những cây mới ba, bốn chục năm tuổi.

Hôm ấy, ông Khoa còn nói rằng giống xoài này phân biệt được từ khi cây còn non, vừa mới ra lá. Chóp lá thon và nhọn, hơi ngả về một bên, gợn sóng. Gân lá nổi dày hơn hẳn gân lá của những giống xoài khác.

Về cái hạt xoài, ông Châu lại có chuyện để nói. Theo ông, nhiều loại cây ăn trái, trong đó có xoài, thường cho ra những hạt đã tự lai với cây khác. Nói theo cách của ông, cây mọc lên từ hạt thì chẳng biết cha mình là cây nào.

Bây giờ, muốn có cây giống, người ta thường ghép. Ghép xoài là việc của người làm vườn đã quen tay. Người làm vườn ươm một hạt xoài lên thành cây con để làm gốc. Trên cành của một cây đã được chọn kỹ, họ lấy ra một mầm nhỏ xíu, gọi là mắt ghép, rồi đặt mầm ấy lên thân cây gốc. Về sau, cành lá mọc ra từ chính mắt ghép đó.

Những cây được chọn để cho mắt ghép như thế, người làm vườn gọi là cây đầu dòng. Năm hai nghìn hai mươi bốn, ngành nông nghiệp tỉnh Tiền Giang khi ấy công nhận một khu vườn có năm mươi cây xoài cát Hòa Lộc ở Hòa Hưng là vườn đầu dòng.

Mắt ghép từ khu vườn ấy được dành cho những vườn ươm được phép làm cây giống.

Trong những vườn ươm ấy, trên những cây xoài non chưa có lấy một trái, chiếc lá đã nói trước cái tên Hòa Lộc.

Câu chuyện liên quan