Đĩa bánh trôi dâng Hai Bà Trưng ở Hát Môn
Nếu trong mấy tháng đầu năm có ai mời một người Hát Môn ăn bánh trôi, người ấy sẽ cảm ơn, rồi lễ phép từ chối. Không phải vì chê bánh, cũng chẳng phải vì đang no. Với người Hát Môn, chiếc bánh trôi đầu tiên của năm còn phải đợi tới một buổi sáng.
Từ Tết Nguyên đán cho tới sáng mùng sáu tháng Ba âm lịch, cả làng kiêng bánh trôi, không nhà nào làm, cũng không nhà nào ăn. Người Hát Môn dù sống ở đâu, gần làng hay xa làng, cũng chờ cho qua ngày dâng bánh. Ở nhiều nơi khác, đầu tháng Ba người ta đã có bánh trôi, còn Hát Môn vẫn lặng lẽ chờ thêm ít hôm nữa, cho tới mùng sáu.
Làng nằm bên sông Hát, tức sông Đáy, trên đất Hà Nội. Muốn tới đền, người ta men theo con đê chạy dọc dòng sông, tới chỗ cửa sông Hát. Ở đó, trên một khoảng đất cao rộng chừng ba héc ta, là ngôi đền thờ Hai Bà Trưng. Trong khu đền có nhà đại bái năm gian, nơi đặt ngai và tượng thờ Hai Bà. Ngẩng lên, những bộ vì kèo đỡ mái chạm trổ dày đặc.
Vào năm bốn mươi, khi đất nước mình đang bị quân Đông Hán cai trị, Hai Bà dựng cờ khởi nghĩa. Ba năm sau, trước thế giặc mạnh, Hai Bà lui quân về vùng đất bên sông Hát. Người dân nơi đây lập đền thờ Hai Bà. Mùng sáu tháng Ba âm lịch là ngày giỗ Hai Bà, ngày chính hội của đền. Từ năm hai nghìn không trăm mười sáu, lễ hội ấy đã là một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Theo lệ làng truyền lại, mỗi năm làng dâng bánh trôi lên Hai Bà ba lần. Có một lần vào tháng Chín, làng nhớ ngày Hai Bà mở tiệc đãi những người lính theo mình. Có một lần vào cuối tháng Chạp, làng nhớ ngày Hai Bà tắm gội, sửa soạn lên ngôi Vua Bà. Nhưng lần lớn nhất, đại tiệc bánh trôi của cả năm, vẫn là ngày mùng sáu tháng Ba.
Bánh dâng Hai Bà phải làm thật cẩn thận, đúng từng bước một. Không phải nhà nào cũng được lo việc ấy. Chỉ những gia đình được chọn, gọi là nhà vẹn toàn, mới được lo bánh dâng. Nhà ấy phải thuận hòa, không có tang, lại hợp với nhiều điều kiện khác nữa.
Người chủ tế đứng ra trông nom từng bước làm bánh. Còn việc giã, việc nặn là của các cụ ông trong Ban Tu lễ. Các cụ cẩn thận từ lúc chọn gạo, lúc giã gạo, cho tới lúc ủ bột.
Các cụ giã gạo thành bột, hết mẻ này sang mẻ khác. Hai mẻ giữa, mẻ thứ ba và mẻ thứ tư, cho thứ bột ngon nhất. Phần bột ấy, các cụ cất riêng để làm bánh dâng Hai Bà. Mẻ thứ nhất, mẻ thứ hai và mẻ thứ năm thì dành làm bánh cúng các quan theo Hai Bà, cũng được thờ trong đền.
Đêm trước ngày giỗ, trẻ nhỏ trong làng đã ngủ cả. Đúng lúc không giờ, ngày mùng sáu vừa sang. Cụ chủ Từ mang phần bột mẻ thứ ba, mẻ thứ tư ra nhà chứa lễ, cùng các cụ ông giã tiếp. Chày nhấc lên, chày nện xuống. Cụ chủ Từ vừa giã vừa vảy nước lên mặt bột. Giã một lúc lại vảy nước, vảy nước rồi lại giã.
Việc này phải nhờ tay người có kinh nghiệm. Bột nát quá thì không nặn được bánh. Bột khô quá thì bánh sẽ vỡ. Bột cứ thế mềm dần, mịn dần, dẻo dần.
Mà sao lại là bánh trôi, chứ không phải một thứ bánh nào khác?
Tương truyền, vào những ngày khó khăn nhất của Hai Bà bên sông Hát, khi thế trận đã nguy, Hai Bà dừng chân ở một quán hàng bánh. Quán ấy bán bánh trôi. Hai Bà ngồi xuống, ăn những chiếc bánh trôi của quán. Người làng nhớ mãi bữa bánh ấy, và từ đó làng có lệ dâng bánh trôi lên Hai Bà trong ngày hội.
Giữa đêm, tiếng chày vẫn đều đều, chậm mà chắc.
Cũng tương truyền rằng, Quán Tiên ngày xưa vốn là một quán bán bánh trôi. Khi nghĩa quân tụ hội ở đàn Thề, bà hàng bánh mang dâng cả gánh bánh của mình, để Hai Bà được ăn trước khi ra trận. Về sau, dân làng dựng cái quán nhỏ ấy để nhớ, và tục bánh trôi trong ngày hội có từ đó.
Khi bột đã vừa tay, tới lượt các cụ nặn bánh. Các cụ không vê bánh trong lòng bàn tay, như cách người ta vẫn quen vê ở nhà. Bánh dâng Hai Bà được các cụ nặn tròn bằng các đầu ngón tay, cẩn thận từng viên một. Viên bột xoay giữa mấy đầu ngón tay, tròn dần, tròn dần, cho tới khi thật tròn.
Trời vừa rạng, ngày chính hội đã tới. Từ sớm, các thôn trong xã rước bánh trôi lên đền dâng hương. Có đoàn rước khoảng năm mươi người, nâng những mâm bánh tròn, trắng, dẻo và thơm lên dâng Hai Bà.
Trong đại lễ, hai đĩa bánh trôi, nặn từ mẻ bột giã lúc nửa đêm, được nâng lên dâng Hai Bà. Lễ xong, những người lo việc lễ ở đền, gọi là Ban Khánh tiết, mời khách từ khắp nơi về cùng thụ lộc. Khách được nhận một phần từ những đĩa bánh trôi đã dâng. Các gia đình thì về nhà, đặt bánh trôi lên bàn thờ tổ tiên.
Chiều mùng sáu, cả làng như đổi khác. Ở khu đền bên sông Hát, Quán Tiên vẫn còn đứng đó. Còn trong làng, các gia đình làm đại tiệc, bữa tiệc bánh trôi lớn nhất trong năm của người Hát Môn. Lần này, đến lượt người Hát Môn đi mời. Nhà này mời khách, nhà kia cũng mời khách, và câu mời nào cũng là một câu mời ăn bánh trôi.