Bánh dày ngày Tết của người Mông
Trong lòng chiếc cối gỗ dài, những hạt xôi nếp nương đang biến mất. Chẳng ai ăn, cũng chẳng ai nhặt đi hạt nào. Hai chiếc chày gỗ thay nhau nện xuống, hạt này dính vào hạt kia, cho tới khi không còn hạt nào đứng riêng một mình.
Hai chàng trai Mông đứng ở hai đầu cối. Họ giã thật ăn ý, nhát nào cũng nhanh, dứt khoát, không ngơi tay. Xôi phải giã ngay lúc còn nóng, để nguội đi thì giã khó lắm.
Chày làm bằng gỗ cứng, nhấc lên rất nặng. Trong cả mẻ bánh, giã là việc vất vả nhất, và việc ấy thường dành cho những chàng trai khỏe mạnh. Hai người mỏi tay thì trao chày cho hai người khác.
Những ngày giáp Tết, nhịp chày như thế rộn vang trong các bản người Mông trên vùng cao, có bản giã ngay vào ngày ba mươi Tết. Ở đâu có người Mông, ở đó Tết có bánh dày. Nhà nào cũng lo làm cho được một mâm bánh, và trên mâm cỗ cúng tổ tiên, bánh dày nhất định không thể thiếu.
Tết cổ truyền của người Mông vốn đến sớm hơn Tết Nguyên đán chừng một tháng, khi mùa màng trên nương đã thu hoạch xong. Bây giờ, nhiều bản đón năm mới cùng cả nước, để những người đi học, đi làm xa được về sum họp. Ngày Tết có đổi, nhưng nếp Tết xưa của người Mông vẫn được giữ.
Mẻ xôi trong cối kia bắt đầu từ hạt nếp nương, thứ nếp mà các gia đình thường tự tay trồng lấy. Hạt nếp to và đều, thơm và dẻo. Gặt về, các nhà đem nếp phơi cho đủ nắng, để lúc xay xát, hạt gạo không gãy nát.
Gần ngày giã bánh, người trong nhà vo nếp và ngâm cho mềm, rồi cho vào chõ gỗ, đồ thành xôi. Chõ bằng gỗ giữ mùi thơm cho xôi, lại giữ cho hạt khỏi nát. Người đồ xôi phải canh liền tay, xem đi xem lại cho tới khi xôi chín thật kỹ. Mẻ xôi ấy góp một phần làm nên cái dẻo, cái ngon của bánh.
Chiếc cối là cả một thân cây. Người làm cối chọn thứ gỗ chắc, thớ mịn, có mùi thơm, rồi khoét rỗng ruột thân cây ấy. Lòng cối dài và trũng, trông như một chiếc thuyền độc mộc. Nhiều nơi gọi nó là máng gỗ. Cho xôi khỏi bám, có nơi xoa một lớp dầu lên lòng cối và chày. Ở một số bản Lai Châu, người ta thoa lòng đỏ trứng gà thay cho dầu.
Xôi vừa chín, còn đang nóng, người lớn đổ ngay vào lòng cối, và hai chiếc chày lại bắt đầu. Giã mãi, giã mãi, cả mẻ mới thành một khối nhuyễn, dẻo quánh. Xôi giã càng nhuyễn, càng dẻo thì bánh càng trắng, càng mịn.
Phụ nữ trong nhà nhấc khối bột ra khỏi cối. Có nơi cắt bột thành nhiều phần trước, rồi mới nặn bằng tay. Họ nặn bột thành những chiếc bánh tròn, dẹt, đều nhau. Bánh nặn càng tròn, trông càng đẹp. Người Mông ở Nghệ An gọi những chiếc bánh tròn ấy bằng một cái tên riêng là lu dúa. Người nặn bánh ở đó bôi vào tay lòng đỏ trứng gà luộc chín cho nếp khỏi dính.
Người trong nhà đã rửa sạch từng tấm lá dong, lá chuối rừng rồi lau thật khô. Lá phải lành lặn, không một vết rách. Nặn xong chiếc nào, họ đặt ngay chiếc ấy lên một tấm lá, trên những chiếc mẹt bày sẵn.
Quanh cối bánh, mỗi người một việc. Có người giã, có người đảo bánh, có người nặn bánh. Đàn ông hay phụ nữ trong nhà, ai cũng chung tay vào mẻ bánh. Với lớp trẻ trong bản, mỗi lần giã bánh cũng là dịp học hỏi, giữ lấy nét đẹp của bản mình.
Ngày nay, ở nhiều bản, nhiều xã, việc giã bánh còn thành một cuộc thi vào đầu xuân hay trong những ngày hội. Có năm, ở xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, các bản thi giã bánh với nhau trong lễ hội mùa xuân. Mỗi đội giã chừng mười lăm phút, rồi cả đội xúm vào nặn bánh, gói bánh. Đội nào có bánh dẻo nhất, nhuyễn nhất, gói nhanh nhất thì thắng. Người Co Mạ thi như thế để thấy dòng họ, gia đình và cả bản đoàn kết một lòng.
Trên những chiếc mẹt, bánh trắng đã xếp thành hàng. Trong mắt người Mông, chiếc bánh tròn ấy là mặt trăng, là mặt trời, nguồn cội sinh ra con người và muôn vật. Có nơi còn nói bánh là tình yêu, là lòng thủy chung của đôi trai gái Mông. Người Tà Số ở Mộc Châu thì tin rằng bánh càng to, càng tròn, càng nhiều, cuộc sống càng đủ đầy.
Bánh dày ngon nhất là lúc vừa làm xong, mềm, dẻo, thơm mùi lá dong rừng. Người lớn còn nướng bánh trên than hồng, hoặc cắt thành miếng nhỏ rồi rán phồng. Ở Nghệ An, người Mông vẫn nướng bánh bên bếp than như xưa nay. Lá chuối bọc ngoài cháy sém, tỏa mùi thơm, còn ruột bánh phồng lên mà vẫn trắng. Có nhà chấm bánh dày với mật ong, còn người Tà Số ăn bánh với mật mía nhà làm.
Còn bên chiếc cối gỗ lúc này, tiếng chày đã thưa dần. Nhát chày cuối nện xuống, và phụ nữ trong nhà nhấc khối bột ra, nặn nốt mẻ bánh sau chót.
Người lớn đem những chiếc bánh đẹp nhất, tròn đầy nhất dâng lên tổ tiên trước, rồi mới chia cho họ hàng, bạn bè và khách. Mỗi chiếc bánh là hạt nếp của cả một năm làm nương vất vả, là công sức của mọi người trong nhà. Cùng những chiếc bánh ấy, con cháu gửi lời cảm ơn tới ông bà, tổ tiên và đất trời. Họ mong một năm mới đủ đầy, ai cũng khỏe mạnh, con cháu ngoan hiền, gia đình hạnh phúc.
Ở Mộc Châu, người Mông dâng sáu cặp bánh đầu tiên lên trời đất và thần mùa màng. Ấy là mười hai chiếc bánh tròn cho mười hai tháng phía trước, nặn từ những hạt nếp vừa biến mất trong lòng cối. Phần bánh còn lại, người ta xếp vào hũ gỗ pơ mu, đậy kín, để dành ăn và đãi khách quý trong những ngày Tết sắp tới.
Rồi những ngày Tết, người Mông sẽ đi chúc Tết nhà nhau, và bánh dày là món mời khách. Bánh gói trong lá để được lâu. Ở Mù Cang Chải, các gia đình tặng bánh cho khách đến nhà, kèm lời chúc một năm no đủ, mùa màng bội thu. Có nhà ở đó còn mừng tuổi khách hai chiếc bánh dày lúc khách chào ra về.
Bên bàn thờ, nhiều nhà cũng đã đặt sẵn chiếc cuốc, chiếc thuổng và con dao, có nơi đặt ngay trên bàn thờ. Người trong nhà dán giấy lên từng thứ, và suốt ba ngày Tết không ai đem chúng ra dùng. Như thế, họ cảm ơn những công cụ ấy, như cho chúng cũng được nghỉ Tết.
Theo lệ cũ, người Mông không đón giao thừa, mà đợi một tiếng gà. Sáng mùng Một, trong bản, con gà đầu tiên cất tiếng gáy.