Ổ bánh mì: từ bánh tây thành món ăn của người Việt
Trên yên sau một chiếc xe máy, một túi giấy nhỏ đang rẽ qua góc phố, bên trong là ổ bánh mì vừa rời tủ kính.
Xe dừng lại trước cổng trường. Túi giấy còn ấm. Hơi nóng của ổ bánh làm một góc giấy mềm đi, và mùi bánh nướng cứ len qua miệng túi, bay theo gió sớm.
Một bàn tay nhỏ đỡ lấy chiếc túi. Ổ bánh nằm bên trong, vỏ vàng ruộm, hai đầu thon lại.
Quãng đường ấy chỉ mất vài phút. Nhưng đó mới là chặng cuối của một chuyến đi dài hơn một trăm sáu mươi năm. Dọc đường, nó đổi dáng, đổi ruột, đổi cả cái tên người ta gọi nó.
Chuyến đi khởi hành từ một thời trên đất này chưa có lấy một ổ bánh mì. Đầu thế kỷ mười bảy, những vị giáo sĩ phương Tây tới đất Việt và ghi lại những điều họ thấy. Ở đây, người ta không gieo lúa mì. Không có lúa mì, nên cũng không có bánh mì. Người Việt sống nhờ bát cơm trắng, ngày nào cũng bốc khói trên mâm. Có vị giáo sĩ còn than thở vì thiếu bánh mì, khi bữa nào dọn ra cũng là cơm.
Thứ lên đường trước tiên lại không phải ổ bánh, mà là cái tên của nó. Cái tên nằm trong một cuốn từ điển dịch tiếng La tinh sang tiếng Việt. Đó là một thứ tiếng cổ của châu Âu. Cuốn từ điển in xong năm một nghìn tám trăm ba mươi tám, ở tận Ấn Độ. Lật tới trang bốn trăm năm mươi ba sẽ gặp chữ La tinh dùng để gọi cái bánh. Ngay bên cạnh, người soạn ghi bằng tiếng Việt: bánh, bánh mì. Vậy là hơn hai mươi năm trước khi ổ bánh tới Sài Gòn, cái tên của nó đã chờ sẵn trong sách.
Chính ổ bánh thì tới đất Gia Định, nơi có Sài Gòn, vào năm một nghìn tám trăm năm mươi chín. Những ổ bánh ấy theo chân quân Pháp, khi họ tới đánh chiếm vùng đất này. Mới hai năm sau, năm một nghìn tám trăm sáu mươi mốt, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã nhắc tới thứ bánh lạ này trong trang viết của mình.
Thuở ban đầu, người mình chưa ưa thứ bánh này. Nó là món ăn của lính ngoại quốc, chẳng mấy ai thấy gần gũi.
Bánh mì không ở yên một chỗ, và nó chọn một lối đi hơi lạ. Hà Nội gặp nó vào năm một nghìn tám trăm bảy mươi bốn. Người Hà Nội gọi nó là "bánh tây", nghĩa là bánh của người phương Tây. Gọi vậy là coi nó như đồ của khách, chưa phải của nhà.
Huế, nơi nhà vua ở khi ấy, lại nằm trên đường từ Sài Gòn ra Hà Nội. Vậy mà phải sau năm một nghìn tám trăm tám mươi lăm, bánh mì mới tới Huế và cả dải đất miền Trung, tức là sau Hà Nội hơn mười năm. Trên bản đồ, ổ bánh như nhảy một mạch từ phía nam lên tận phía bắc, bỏ qua miền Trung, mãi sau mới ghé lại.
Còn ở Sài Gòn, nơi ổ bánh đặt chân đầu tiên, con đường rẽ một khúc không có trên bản đồ. Khúc rẽ ấy nằm trong đôi bàn tay của những người thợ làm bánh.
Ổ bánh người Pháp mang sang dài chừng tám mươi xăng ti mét, ruột đặc. Nó dài như một khúc củi, cầm trên tay mà ăn thật bất tiện. Thợ Việt nặn cho nó ngắn lại, chỉ còn ba mươi đến bốn mươi xăng ti mét, cỡ một nửa ổ bánh của người Pháp. Những ổ bánh nhỏ ra đời trước tiên trong các lò bánh ở Sài Gòn, vào khoảng đầu thế kỷ hai mươi. Năm một nghìn chín trăm mười, người ta đã bày bán chúng ngay trên đường phố.
Rồi những người thợ gặp một bài toán khó hơn. Từ khoảng năm một nghìn chín trăm mười bốn, bột mì chở từ bên Pháp sang trở nên khan hiếm. Thợ làm bánh ở xứ mình, cả người Việt lẫn người Hoa, không chịu dừng tay. Họ trộn thêm bột gạo vào bột mì, về sau có cả bột bắp. Hạt gạo, thứ từng làm khách phương Tây nhớ bánh mì, lại nằm ngay trong ruột ổ bánh những năm ấy.
Lứa bánh mới nhỏ hơn, ruột mềm hơn, vỏ giòn, và rẻ hơn. Ổ bánh vừa tay người cầm, vừa túi tiền của người dân bình thường. Đồ của khách ngày nào, giờ đã thành đồ của nhà.
Năm một nghìn chín trăm ba mươi, nhiều người đội những giỏ bánh mì đi bán rong trên phố Sài Gòn. Mỗi ổ giá hai xu, chỉ là tiền lẻ.
Cũng ở đó, ổ bánh bắt đầu mở lòng ra. Người ta kể rằng, một người chủ tiệm bánh mì thấy cảnh ăn bánh với bơ, thịt nguội, pa tê bày ra trên đĩa sao mà chậm, mà lỉnh kỉnh quá. Thế là người chủ tiệm nghĩ ra cách cho hết những thứ đó vào bên trong ổ bánh, để tiện mang theo. Có người bảo chuyện ấy bắt đầu từ hồi bánh mì mới rẻ đi, người khác lại bảo phải tới cuối những năm một nghìn chín trăm năm mươi. Còn ai là người đầu tiên kẹp nhân vào ổ bánh mì, đến giờ vẫn chưa ai dám chắc.
Chỉ biết rằng từ đó, ổ bánh không còn đi một mình. Một ổ bánh mì kiểu Sài Gòn mở ra là cả một gian bếp nhỏ. Người bán rạch dọc thân bánh. Một lớp bơ mỏng. Một lớp pa tê. Mấy lát thịt nguội. Một nhúm chà bông. Rồi đồ chua chua, hành thơm, ớt cay. Cắn một miếng, vỏ bánh vỡ ra lách tách, ruột bánh mềm ôm lấy tất cả.
Người ăn mỗi ngày một đông. Bánh mì ở đây vốn nướng trong những lò gạch. Đến năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, lò gạch không nướng kịp nữa. Người ta dùng thêm lò điện, cùng những chiếc lò làm từ thùng phuy, thứ thùng sắt to và tròn.
Chặng xa nhất thì vượt ra khỏi đất nước. Tháng ba năm hai nghìn mười một, cái tên cả nhà vẫn gọi mỗi sáng, viết theo kiểu không dấu, được đưa vào cuốn từ điển tiếng Anh Oxford. Chín năm sau, vào ngày hai mươi bốn tháng ba năm hai nghìn hai mươi, ai mở trang Google ở mười hai nước cũng thấy hiện lên một ổ bánh mì.
Món bánh mà người Hà Nội xưa gọi là bánh tây, nay sang tận phương Tây bằng chính cái tên tiếng Việt của mình.
Trước cổng trường sáng nay, chuyến đi vừa tới nơi. Miệng túi giấy mở ra. Nhìn ngược lại, con đường chạy lùi thật nhanh: qua chiếc giỏ bánh trên đầu người bán rong, qua đôi bàn tay trộn bột gạo vào bột mì, về tận một bát cơm trắng bốc khói.
Hai bàn tay nhỏ bẻ đôi ổ bánh. Vỏ vàng vỡ ra, hơi ấm bay lên, và mấy mẩu vụn rơi lả tả, nhỏ như những hạt gạo.