Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Bánh trôi bánh chay ngày Tết Hàn thực

0:000:00

Gạo nếp nằm ngâm trong chậu nước suốt cả ngày mùng hai tháng ba âm lịch. Hạt gạo trắng đục, lặng im dưới đáy chậu. Ngày mai đã là mùng ba, cái Tết mà nhiều người vẫn gọi giản dị là Tết bánh trôi bánh chay.

Ở làng quê, nhà nào tự tay sửa soạn mâm bánh cúng thì Tết bắt đầu từ hôm nay và kéo dài tới hết ngày mai. Gạo trong chậu là gạo nếp cái hoa vàng, có nhà pha thêm một ít gạo tẻ. Cái Tết này được giữ nhiều nhất ở miền Bắc.

Tối mùng hai, gạo mới được đem đi xay. Xay lúc hạt gạo còn ngậm nước thì được thứ bột nếp xay tươi. Bột mềm, dẻo, thoảng mùi chua nhẹ của gạo ngâm. Bột vừa xay còn đẫm nước.

Người ta đổ bột vào một chiếc túi vải rồi treo lên. Suốt đêm, khi mọi người trong nhà đã ngủ, nước trong túi cứ róc dần ra.

Sáng mùng ba, túi bột được gỡ xuống. Các mẹ dỡ bột ra mâm. Qua một đêm, bột đã ráo nước mà vẫn giữ nguyên cái mềm, cái dẻo của bột xay tươi.

Cạnh mâm bột là tấm đường phên, thứ đường nâu đóng thành phiến. Phiến đường ngon có màu nâu đỏ, cứng và giòn, lại thơm mát. Vừa nặn bánh, các mẹ vừa chặt đường thành những mẩu nhỏ vừa vặn. Có vậy bánh mới không ngọt quá, và đường tan ra vừa đủ khi luộc.

Làm bánh trôi thì véo một nhúm bột, ấn mẩu đường vào giữa, khép bột lại rồi vê cho tròn. Viên bánh nhỏ xinh, trắng tinh, giấu kín một mẩu đường nâu trong lòng.

Bánh chay cũng từ mâm bột ấy mà ra, nhưng to hơn. Nhân bánh là đỗ xanh nấu chín, trộn với đường và dừa. Mỗi chiếc được nặn tròn rồi ấn nhẹ cho dẹt. Có bà cụ còn vo nhân đỗ thành những viên nhỏ, chỉ bằng đầu ngón tay cái.

Trẻ con cũng có phần việc của mình. Em bé nhỏ nhất ngồi sát bên bố mẹ, vê những viên bánh trôi bé xíu từ nắm bột mềm và mát tay.

Trên bếp, nồi nước đã sôi. Thả bánh và vớt bánh là việc của người lớn, còn bọn trẻ vẫn ngồi lại bên mâm bột. Những viên bánh trôi được thả xuống, chìm ngay xuống đáy nồi. Một lúc sau, viên này rồi viên kia lần lượt nổi lên, trôi lững lờ trên mặt nước. Đúng là bánh trôi, trôi thật.

Ông bà mình có câu: ba chìm bảy nổi, chín lênh đênh. Bánh đã nổi lênh đênh là bánh đã chín. Thấy bánh nổi, người lớn hạ bớt lửa, vì nước sôi mạnh quá sẽ làm vỡ bánh. Ngày trước, với người lớn đứng bếp, xem bánh chìm rồi nổi cũng là một cái thú. Cái chìm cái nổi ấy còn đi vào thơ. Nhà thơ Hồ Xuân Hương viết về chiếc bánh trôi một câu: Bảy nổi ba chìm với nước non. Từ câu thơ ấy, ông Nhất Thanh trong cuốn Đất lề quê thói gọi bánh trôi bánh chay là bánh nên thơ, thứ bánh đã thành thơ.

Bánh vớt lên được thả vào một bát nước đun sôi để nguội, cho săn lại. Xong xuôi, bánh mới được xếp ra đĩa. Vừng rang được chấm lên từng viên, bằng đầu ngón tay hay đầu một chiếc đũa to nhúng nước.

Cuối buổi sáng, nồi bánh vẫn còn bốc hơi. Giữa làn hơi ấy, cái tên kia của ngày hôm nay nghe mới ngộ: Tết Hàn thực, hai chữ Hán có nghĩa là ăn đồ lạnh. Tục này vốn từ bên Trung Hoa. Xưa kia ở đó, người ta tưởng nhớ một người hiền tên là Giới Tử Thôi bằng ba ngày không nhóm bếp, chỉ ăn đồ nấu sẵn để nguội.

Năm một nghìn chín trăm mười lăm, những trang ông Phan Kế Bính viết về phong tục người Việt được in thành sách. Trong sách, ông kể rằng người mình theo tục ấy mà ăn Tết vào mùng ba, nhưng làm bánh trôi bánh chay để thay cho đồ lạnh. Bánh chỉ dâng lên tổ tiên trong nhà, chẳng ai nghĩ gì đến Giới Tử Thôi. Tên gọi là ăn lạnh, vậy mà chẳng nhà nào kiêng nấu nướng. Bếp sáng nay cũng thế: bánh ra từ nồi nước sôi, rồi mới mát đi trong bát nước nguội.

Ngoài phố thì khác. Tết chỉ gói trong hai, ba tiếng buổi sáng: sáng mùng ba, hoặc sáng mùng hai với những nhà cúng sớm. Nhiều nhà mua bánh làm sẵn của người bán hàng rong, những gánh bánh ngày nào cũng có trên phố. Riêng hôm nay, người ta đứng vây quanh gánh bánh, lớp trong lớp ngoài, chờ mua từ sáng sớm.

Bây giờ, có người còn pha màu tự nhiên cho bột. Đỏ thì lấy từ quả gấc, xanh thì lấy từ trà, lại có cả tím và cam. Đó là bánh trôi ngũ sắc, nhiều màu mà cách làm vẫn theo lối cũ. Ở các lớp mầm non, nặn bánh trôi bánh chay còn thành một bài học của các bé.

Trong căn bếp nhà quê, bọn trẻ tíu tít bê đĩa, bê bát, xếp bánh lên mâm. Đến trưa, bánh trôi đã nằm ngay ngắn trên những chiếc đĩa. Có đĩa còn được đặt thêm mấy bông hoa bưởi bên cạnh. Bánh chay thì ngồi trong những chiếc bát nhỏ, mỗi bát hai viên to hoặc ba viên nhỏ. Người ta khuấy bột sắn dây với đường thành thứ nước sánh và trong, thoảng hương hoa bưởi, rồi chan lên bánh chay. Có nhà lại nấu nước đường gừng mà chan. Trên mặt bát rắc chút vừng, có nhà thêm ít dừa nạo. Vài hạt đỗ xanh hấp chín rải thưa, trông như hoa cau rụng.

Mâm cúng có hương, hoa và trầu cau, có những đĩa bánh trôi, còn bánh chay thì ba hoặc năm bát. Rồi khói hương bay lên. Không chỉ nhà này, mà nhà nhà trong xóm đều nghi ngút khói hương. Nén hương thắp lên để nhớ ông bà tổ tiên. Những chiếc bánh làm từ hạt gạo của mùa màng được dâng lên, cùng một lời mong mưa thuận gió hòa, lúa được mùa.

Trên mâm, hai thứ bánh trắng ngồi cạnh nhau. Một nhà nghiên cứu thời nay nhìn hai thứ bánh ấy mà nghĩ đến chuyện mẹ Âu Cơ sinh ra trăm trứng. Theo cách nhìn ấy, bánh trôi như năm mươi người con theo mẹ lên núi. Bánh chay như năm mươi người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển. Đó là cách nhìn của người thời nay, không phải chuyện cổ truyền lại.

Lễ xong, khi trời sang đầu giờ chiều, mâm bánh được hạ xuống. Cả gia đình ngồi quây quần, chụm đầu bên những đĩa, những bát bánh. Bánh đã nguội, mềm và mát. Ăn bánh trôi thì từng miếng nhỏ, mẩu đường phên nâu đỏ bên trong đã tan vừa đủ. Nước sắn trong bát bánh chay sánh, ngọt dịu, thoảng hương hoa bưởi. Chính cái mát ấy, ông Nhất Thanh cũng nhắc tới, nhưng theo một cách khác. Với ông, đây là thứ bánh ăn cho mát lòng khi nắng hạ vừa về, chẳng dính dáng gì đến ngày ăn lạnh bên Trung Hoa. Người hiểu thế này, người hiểu thế kia, và đến giờ vẫn chưa ai biết chắc vì sao ngày này lại là bánh trôi bánh chay.

Chiều tối, nhà lại yên. Nồi nước trên bếp đã nguội. Chiếc chậu ngâm gạo hôm qua đã rửa sạch, úp ngược bên bếp, còn lấm tấm mấy giọt nước.

Câu chuyện liên quan