Bao Công và cái nghiên mực ông không lấy
Ông quan trong bộ phim mà bao nhiêu gia đình Việt Nam từng ngồi xem trên tivi là một người có thật.
Chỉ có điều người thật ấy không có phép thuật, không có mấy cỗ máy chém trong truyện, và trên trán ông chẳng có vầng trăng nào. Chuyện hôm nay là chuyện về đúng chỗ khác nhau đó. Vì khi gỡ hết những thứ người đời sau đắp vào, con người còn lại phía dưới hóa ra còn hay hơn.
Tên ông là Bao Chửng. Ông sinh năm chín trăm chín mươi chín ở vùng Hợp Phì, làm quan đời nhà Tống, và mất năm một nghìn sáu mươi hai.
Mấy trăm năm sau khi ông nằm xuống, các gánh tuồng rồi những người viết tiểu thuyết cứ thêm vào ông mỗi đời một ít. Đời nào cũng đắp thêm một lớp, cho tới khi cái tên ông mang theo cả một kho chuyện lạ mà sử không hề có lấy một dòng. Sử thời Tống chép về ông lặng lẽ hơn nhiều. Và giữa những trang lặng lẽ ấy có một cái nghiên mực.
Trước khi tới cái nghiên mực đó, phải kể một quãng dài ông không làm quan.
Bao Chửng thi đỗ từ sớm, triều đình cấp cho ông một chức ở xa. Nhưng cha mẹ ông đã già, ông xin thôi không đi. Người ta đổi cho ông một chỗ gần nhà hơn, hai cụ vẫn không muốn rời quê. Thế là ông trả luôn chức quan, về nhà nuôi cha mẹ. Vài năm sau hai cụ lần lượt qua đời. Ông dựng lều bên mộ cho trọn tang, hết tang rồi vẫn nấn ná chưa nỡ đi, đến mức các bậc cha chú trong làng phải mấy lần sang khuyên ông ra gánh việc nước. Khi nhận chức tri huyện đầu tiên ở Thiên Trường, ông đã gần bốn mươi tuổi.
Rồi tới năm một nghìn bốn mươi, ông được cử về coi Đoan Châu, vùng đất ngày nay gọi là Triệu Khánh, thuộc Quảng Đông.
Đoan Châu là cái tên mà người cầm bút thời ấy nghe tới là sáng mắt lên.
Cả nhà hình dung thế này. Thuở chưa có bút bi, muốn viết thì phải mài mực. Người ta nhỏ mấy giọt nước vào lòng một phiến đá lõm, cầm thỏi mực khô mài vòng vòng cho tới khi nước sánh lại thành mực. Phiến đá lõm ấy gọi là cái nghiên. Đá làm nghiên ở Đoan Châu lấy từ những vách núi bên sông, mịn và mát, mài mãi không hại ngòi bút, mịn đến mức người ta còn bảo chỉ hà hơi vào lòng nghiên cũng đủ ẩm để mài. Nghề đẽo nghiên ở đó đã có chừng một nghìn bốn trăm năm, tính từ đầu đời Đường. Cùng với cây bút lông, thỏi mực và tờ giấy, cái nghiên là một trong bốn món quý nhất trên bàn học của người xưa, thứ mà nhà nào có người đi học trong vùng cũng biết mặt. Đến năm hai nghìn lẻ sáu, nghề làm nghiên Đoan Châu vẫn được xếp vào lớp di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia đầu tiên của Trung Quốc.
Mỗi năm Đoan Châu phải nộp lên kinh một số nghiên nhất định. Số ấy có sổ sách rõ ràng.
Nhưng các vị quan coi Đoan Châu trước Bao Chửng đã quen làm một việc khác. Mượn cớ cống nạp, họ bắt thợ làm nhiều gấp hàng chục lần số phải nộp. Phần dôi ra không vào kho nhà nước. Nó đi theo một đường riêng, tới cửa các bậc quyền quý ở kinh thành, làm quà.
Phần dôi ra ấy không tự nhiên mà có. Nó nằm trong những ngày dài của người thợ, cúi trên phiến đá, đục từng đường, mài từng lớp, cho một cái nghiên mà mình sẽ chẳng bao giờ biết nó đi đâu.
Bao Chửng tới nơi, xem sổ, rồi ra một cái lệnh rất ngắn. Từ nay thợ chỉ làm vừa đủ số phải nộp. Không thêm một cái nào.
Ông coi Đoan Châu ba năm. Năm một nghìn bốn mươi ba, hết nhiệm kỳ, ông rời đi. Trong hành lý của ông không có lấy một cái nghiên.
Ba năm ở ngay nơi làm ra thứ nghiên đẹp nhất nước. Một cái cũng không.
Trên vách phòng làm việc ở Đoan Châu, ông có đề một bài thơ. Câu mở đầu là Thanh tâm vi trị bản, trực đạo thị thân mưu. Nghĩa là lòng trong là gốc của việc cai trị, còn đường thẳng là cách tính cho đời mình. Ở Triệu Khánh bây giờ, tại vùng núi đá Thất Tinh Nham, vẫn còn một dòng chữ khắc mà người ta cho là bút tích duy nhất của ông còn sót lại. Ông cũng cho đào giếng để dân trong châu có nước dùng.
Nhiều năm sau, năm một nghìn năm mươi bảy, ông về coi phủ Khai Phong, tức là kinh đô.
Ở đó có một cái lệ cũ. Người dân có việc oan ức thì không được bước thẳng vào công đường. Phải viết đơn, đưa cho đám thư lại ngoài cổng, rồi ngồi chờ lá đơn ấy được chuyển vào trong. Mà lá đơn thì có thể đi nhanh, đi chậm, hoặc đi lạc, tùy tay người cầm.
Bao Chửng cho mở cổng chính.
Từ đó ai có việc cứ bước thẳng vào, đứng trước mặt quan mà nói điều ngay điều gian của mình, bằng chính giọng mình, không phải nhờ ai nói hộ. Chỉ một cánh cổng mở ra thôi, mà đám thư lại không còn dám giấu giếm nữa.
Sử chép ông tính thẳng, ghét nhất là hạng quan lại khắc nghiệt với dân, và luôn buộc người dưới quyền phải ăn ở cho tử tế. Ghét cái sai đến vậy, nhưng với con người thì ông vẫn giữ lòng khoan thứ. Ông không hùa theo ai, không làm bộ mặt vui vẻ để lấy lòng ai. Ở nhà ông không giữ thư từ riêng. Bạn cũ hay họ hàng tìm tới nhờ vả thì ông từ chối hết. Đến lúc đã làm quan lớn, quần áo, đồ dùng, bữa ăn của ông vẫn y như hồi còn là dân thường.
Người kinh thành có một câu về ông, nghe qua thì buồn cười. Họ bảo thấy Bao Chửng cười còn khó hơn thấy nước sông Hoàng Hà trong. Mà sông Hoàng Hà thì đục quanh năm. Vậy mà cũng chính lũ trẻ con và các bà các mẹ trong kinh lại thuộc lòng tên ông.
Ông còn để lại cho con cháu một lời dặn trong nhà. Đời sau con cháu ra làm quan mà ăn của đút thì không được về nhà, mất cũng không được chôn trong khu mộ của họ. Ai không theo ý ấy thì không phải con cháu của ông.
Bao Chửng mất năm một nghìn sáu mươi hai, thọ sáu mươi tư tuổi. Triều đình đặt tên thụy cho ông là Hiếu Túc.
Còn ông quan trên tivi thì đến với các gia đình Việt Nam theo một con đường rất gần. Năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, một hãng truyền hình Đài Loan làm về ông một bộ phim dài hai trăm ba mươi sáu tập. Phim chiếu khắp châu Á, sang tới Việt Nam, rồi nhiều năm sau đài truyền hình trong nước còn phát lại. Cả một thế hệ cha mẹ lớn lên cùng nó. Từ đó hai tiếng Bao Công thành hẳn một cách nói trong tiếng Việt mình: ai xử việc công bằng, không nể mặt ai, thì được gọi là Bao Công. Ngày xưa ở Đàng Trong, quan Nguyễn Khoa Đăng xử kiện giỏi cũng được người đời ví với ông như thế.
Cho nên lần tới, nếu cả nhà tình cờ xem lại một tập phim cũ, thử nhớ tới một thứ mà không ống kính nào quay được. Một cái hòm hành lý đóng lại, rời khỏi vùng đất làm ra thứ đá quý nhất nước sau ba năm ròng. Bên trong không có hòn đá nào cả.