Trương Hành và chiếc bình đo động đất
Keng.
Một tiếng rất nhỏ, gọn và trong, như tiếng ai búng móng tay vào thành chậu đồng. Rồi im hẳn.
Gian phòng lớn ở kinh đô Lạc Dương hôm ấy không có gió. Không ai vấp. Ngoài sân không có cỗ xe ngựa nào chạy qua. Vậy mà mấy vị quan đang cúi trên bàn giấy đều ngẩng đầu lên cùng một lúc, quay về phía góc phòng.
Ở góc ấy có một cái bình.
Một cái bình đồng rất to, đứng lẻ loi trên nền gạch. Bề ngang của nó tám thước theo lối đo thời ấy, tức là chừng gần hai mét, nắp vồng cao lên như cái vung úp ngược. Nhìn thoáng qua thì giống một hũ rượu khổng lồ, đúc bằng thứ đồng tốt nhất.
Quanh thân bình có tám con rồng. Tám cái đầu rồng chúc xuống, xòe ra tám phía như tám cánh của một bông hoa. Đông, tây, nam, bắc, rồi bốn hướng chéo xen vào giữa. Mỗi con ngậm trong miệng một viên bi bằng đồng.
Ngồi ngay dưới mỗi con rồng, sát mặt đất, là một con cóc đồng. Cóc ngửa mặt lên, há miệng thật to, và chờ.
Cho tới lúc ấy, tám cái miệng cóc đều há ra trống rỗng. Bây giờ thì có một cái không còn rỗng nữa. Một viên bi đã rời khỏi hàm rồng và nằm gọn trong miệng cóc. Con rồng vừa nhả viên bi ấy đang chúc đầu về hướng tây.
Người đúc ra chiếc bình tên là Trương Hành. Ông làm chức Thái sử lệnh trong triều nhà Hán, tức là quan coi việc trời: ngắm sao, tính lịch, ghi những gì xảy ra trên cao. Ông sinh năm bảy mươi tám và mất năm một trăm ba mươi chín. Ông còn là một nhà thơ có tiếng, và từng dựng được một quả cầu mô phỏng bầu trời, cho nước chảy làm nó tự xoay, để người ngồi trong nhà vẫn biết ngoài kia sao đã đi tới đâu.
Năm một trăm ba mươi hai, ông dâng lên chiếc bình này. Tên nó dài và lạ tai: hậu phong địa động nghi.
Ý tưởng thì gọn lắm. Đất ở một nơi nào đó rung lên. Cái rung ấy chạy ngầm dưới chân người, đi rất xa, và khi tới nơi thì đã yếu đến mức không ai cảm thấy gì. Nhưng nếu có một vật đủ nhạy, vật ấy sẽ cảm thấy thay cho ta. Nó nhả xuống một viên bi. Và cái hướng con rồng đang quay mặt về sẽ nói cho ta biết chuyện xảy ra ở phía nào.
Hôm đó, chiếc bình đã làm đúng việc của nó.
Chỉ có điều không một ai tin.
Kinh thành đâu có rung. Không một cái chén nào sóng sánh. Không một cánh cửa nào cọt kẹt. Các học giả trong kinh nhìn viên bi nằm trong miệng cóc, rồi nhìn nhau. Đất không động thì báo động làm gì. Người ta bắt đầu bảo nhau rằng cái bình đồng đắt tiền kia rốt cuộc cũng chỉ là một món đồ khéo tay, đẹp thì đẹp, mà vô dụng.
Rồi một ngày trôi qua. Chợ vẫn họp, sao vẫn mọc. Hai ngày. Ba ngày. Viên bi cứ nằm im trong miệng con cóc đồng, chẳng ai buồn nhặt ra, và mỗi lần đi ngang lại có người liếc nó một cái rồi đi tiếp.
Mấy hôm sau, ngoài cửa thành phía tây có tiếng vó ngựa dồn dập.
Một người phi trạm về tới, ngựa ướt đẫm mồ hôi, mang theo tin từ Lũng Tây, một vùng đất xa mãi phía tây, cách kinh đô mấy trăm cây số. Bên ấy đất vừa động thật.
Đúng hôm ấy. Đúng hướng ấy.
Cả kinh thành lặng đi. Bao nhiêu đời nay, người ta chỉ biết có động đất khi chính mình bị lắc, hoặc khi có người từ xa về kể lại. Lần này thì khác hẳn. Lần này thành phố đã biết tin trước cả người đưa tin, nhờ đúng một tiếng bi đồng rơi.
Đến đây, xin cả nhà cho người kể dừng lại một chút, để nói cho thật rõ ba điều.
Điều thứ nhất. Không ai biết bên trong chiếc bình ấy có gì.
Cuốn sử của nhà Hán còn giữ lại phần mô tả, khá kỹ, nhưng chỉ kỹ ở bên ngoài: đồng tốt, nắp vồng, tám rồng, tám cóc. Đến phần ruột thì vỏn vẹn mấy chữ, nói rằng giữa lòng bình có một cây cột lớn. Cây cột ấy hình dáng ra sao, nó nối với hàm rồng bằng cách nào, làm sao nó chỉ mở đúng một cái miệng chứ không mở tung cả tám, thì không một dòng nào giải thích. Còn chiếc bình gốc thì mất từ lâu lắm rồi. Không còn lại một mảnh nào.
Điều thứ hai. Mọi chiếc bình tám rồng tám cóc trong bảo tàng ngày nay đều là đồ phỏng dựng. Không phải bản sao, vì chẳng ai có bản gốc để mà chép lại. Chúng là những lời phỏng đoán, đúc thành đồng. Có một mẫu rất nổi tiếng làm hồi giữa thế kỷ hai mươi, in đi in lại trong sách vở mấy chục năm, về sau bị chính giới nghiên cứu chê là dựng sai cả hình dáng lẫn nguyên lý. Nhiều nhóm khác làm lại từ đầu. Có nhóm mất mười năm ròng cho một mẫu. Đến giờ họ vẫn còn tranh luận với nhau, rằng cây cột giữa lòng bình là một cái cột dựng đứng, hay là một quả lắc treo lơ lửng.
Điều thứ ba. Người ta cũng không thống nhất được lần thử nổi tiếng ấy xảy ra vào năm nào. Có nhà nghiên cứu đặt nó vào năm này, có người đặt vào năm khác, chênh nhau nhiều năm. Chuyện thì sử có chép hẳn hoi. Riêng cái mốc thời gian thì tới nay vẫn còn treo lơ lửng.
Và còn một điều nữa cần nói cho ngay ngắn. Chiếc bình không đo được mạnh yếu. Nó không biết trận động đất kia lớn cỡ nào, càng không biết trước để mà báo trước. Nó làm được đúng hai việc: nói rằng đất vừa động, và chỉ tay về phía đất động. Chỉ vậy thôi. Mà hai việc ấy, gần hai nghìn năm trước, đã là chuyện chưa từng có ai làm được.
Tám cái hướng mà tám con rồng quay mặt về, thật ra chẳng xa lạ gì với người mình. Đó đúng là tám hướng ông bà vẫn ngồi bấm đốt tay khi chọn chỗ dựng nhà, xoay bếp, đặt cửa. Đông, tây, nam, bắc, rồi bốn hướng chéo xen vào giữa. Tên hướng thì đứa trẻ nào cũng nghe quen tai, chỉ là chưa từng nghe chúng gắn với mấy cái đầu rồng bằng đồng.
Nghề đồng cũng vậy. Ở nước mình, thợ đúc từng đổ ra những mặt trống đồng Đông Sơn hoa văn dày kín, rồi cái nghề ấy cũng thất truyền y hệt chiếc bình kia. Mãi sau này, ở thành cổ Luy Lâu thuộc đất Bắc Ninh, người ta đào lên gần một nghìn mảnh khuôn đúc trống bằng đất nung. Toàn mảnh vỡ. Vậy mà từ đống mảnh vỡ ấy, các nhà khảo cổ cùng thợ đúc làng Chè Đông ở Thanh Hóa đã đổ lại được một chiếc trống đồng thật, gõ lên có tiếng vang.
Hai câu chuyện, hai xứ sở, mà công việc thì giống nhau đến lạ: chắp những mảnh còn sót lại để dựng lại một thứ đã mất, rồi thành thật nói ra chỗ nào mình vẫn còn phải đoán.
Cho nên nếu có ngày cả nhà đứng trước một chiếc bình đồng tám rồng tám cóc trong bảo tàng, thì đừng đứng chờ tiếng keng. Nó sẽ không kêu đâu. Những con rồng ấy ngậm bi cho đẹp.
Còn tiếng keng trong chuyện này thì có thật. Nó vang lên trong một gian phòng yên tĩnh ở Lạc Dương, giữa những người không hề cảm thấy gì và đã đinh ninh rằng mình vừa chứng kiến một sai lầm. Phải mấy hôm sau họ mới biết mình nhầm. Còn viên bi thì đã nằm sẵn trong miệng con cóc, quay đúng về hướng tây, từ trước đó rất lâu rồi.