Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Lý Bạch và ánh trăng trước giường

0:000:00

Trong một căn phòng tối, trên nền nhà có một mảng trắng.

Nó mỏng, nó lạnh, nó trải dài ra ngay chỗ chân giường. Người nằm trên giường vừa tỉnh giấc nửa chừng, mắt còn chưa mở hẳn. Nhìn xuống thấy vệt trắng ấy, ông nghĩ ngoài kia sương đêm đã xuống dày, đọng lại thành một lớp mỏng phủ lên mặt đất.

Rồi ông tỉnh thêm một chút nữa. Sương thì không phủ được vào trong nhà.

Không phải sương. Là ánh trăng.

Đêm ấy trăng sáng tới mức rọi được vào tận trong nhà, đổ xuống nền một mảng trắng giống sương đến kỳ lạ. Người ấy nằm im một lúc lâu. Rồi ông ngẩng đầu lên nhìn vầng trăng. Rồi ông cúi đầu xuống, và nhớ quê.

Hết. Không còn gì thêm nữa.

Toàn bộ chuyện vừa kể ra đó chính là nội dung của một bài thơ, và bài thơ ấy dài đúng hai mươi chữ. Bốn câu, mỗi câu năm chữ, cộng lại vừa tròn hai mươi. Ngắn hơn tờ giấy mẹ ghi vội trước lúc đi chợ. Ngắn hơn chính cái câu đang được đọc lên đây.

Hai mươi chữ ấy đã đi được hơn một nghìn hai trăm năm.

Người viết chúng tên là Lý Bạch, sinh năm bảy trăm lẻ một và mất năm bảy trăm sáu mươi hai. Cả đời ông nằm gọn trong đời Đường bên Trung Hoa, một triều đại kéo dài từ năm sáu trăm mười tám tới năm chín trăm lẻ bảy. Ông lớn lên ở đất Thục, tức vùng Tứ Xuyên bây giờ, một xứ núi non trùng điệp, đường đi chỗ nào cũng dốc, mây sà xuống thấp tới mức đi bộ cũng chạm được.

Đến một ngày, ông rời khỏi vùng núi ấy, xuống thuyền mà xuôi theo dòng sông lớn.

Và rồi ông gần như không ở yên một chỗ nào nữa. Suốt phần đời còn lại, Lý Bạch đi. Hết vùng này sang vùng khác, hết mùa này sang mùa khác, ngủ ở quán trọ, ngủ nhờ nhà bạn, ngủ trên thuyền dọc những con sông lớn. Có một quãng ngắn ông được vời vào cung vua ở Trường An để làm thơ. Rồi ông lại lên đường.

Chính ở Trường An, ông gặp một nhà thơ lớn tuổi hơn tên là Hạ Tri Chương. Đọc thơ Lý Bạch xong, Hạ Tri Chương sửng sốt, và ông đặt cho người trẻ hơn mình một cái tên gọi mà đời sau còn dùng mãi. Ông gọi Lý Bạch là ông tiên bị đày xuống trần.

Cái tên ấy nghe thì oai, mà ngẫm kỹ lại thấy thương. Một ông tiên bị đày xuống trần nghĩa là một người đang ở rất xa cái chỗ mình vốn thuộc về. Người ấy đi giữa cõi người, nhìn thấy hết, viết ra được hết, mà trong bụng thì lúc nào cũng có một nơi khác để nhớ.

Thơ Lý Bạch nhiều lắm. Tới hôm nay người ta còn giữ được khoảng một nghìn bài của ông. Trong đó có những bài dài, dựng lên cả những con đường vắt qua vách núi cao đến chóng mặt, những dòng sông chảy xiết, những chuyến rong chơi tận trên mây. Vậy mà bài đi xa nhất, bài nhiều người thuộc nhất, lại chính là cái bài bé xíu kia. Bài của một người nửa đêm tỉnh giấc, nhìn xuống nền nhà, và tưởng nhầm ánh trăng là sương.

Còn một chuyện nữa về hai mươi chữ ấy, cả nhà nghe thử xem có lạ không. Chúng cũng đi lang thang y hệt người đã viết ra chúng.

Bài thơ được chép tay, chép đi chép lại suốt bao nhiêu đời, từ quyển sách này sang quyển sách khác. Và các bộ sách cổ không giống nhau hoàn toàn. Ở câu mở đầu, có bộ chép là ánh trăng sáng, có bộ chỉ chép là nhìn ánh trăng. Ở câu thứ ba, có bộ chép là ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng, có bộ lại chép là ngẩng đầu nhìn vầng trăng trên núi. Vỏn vẹn hai mươi chữ, mà đã lệch nhau mất mấy chữ rồi.

Đến chữ đầu tiên của bài thơ, người ta cũng vẫn còn tranh luận. Chữ ấy quen được hiểu là cái giường, nên bao nhiêu đời nay ai đọc lên cũng thấy ngay một người đang nằm trong nhà. Nhưng có người nghiên cứu cho rằng chữ ấy có thể chỉ cái khung cửa sổ, hoặc chỉ thành giếng ngoài sân. Nếu đúng thế thì người trong bài không nằm trên giường chút nào. Người ấy đang đứng ngoài trời, bên miệng giếng, dưới trăng.

Chưa ai kết luận dứt khoát được. Mà cũng chẳng sao. Thứ giúp bài thơ sống dai đến vậy không nằm ở chỗ ông nằm hay ông đứng. Nó nằm ở hai động tác mà ai trên đời cũng làm được. Ngẩng đầu lên, rồi cúi đầu xuống.

Bài thơ tên là Tĩnh dạ tứ. Đọc theo âm Hán Việt, hai câu mở đầu nghe thế này.

Sàng tiền minh nguyệt quang, nghi thị địa thượng sương.

Nghĩa mộc mạc là: trước giường ánh trăng sáng, ngỡ là sương trên mặt đất.

Và đây là chỗ mà nhiều người lớn trong nhà sẽ khựng lại một nhịp.

Bài thơ hai mươi chữ này từ lâu đã nằm trong sách Ngữ văn của học trò Việt Nam, dưới cái tên tiếng Việt là Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh. Bao nhiêu thế hệ đã học nó, chép nó vào vở, trả bài nó trước lớp. Rồi quên gần hết mọi thứ khác của năm học năm ấy, mà riêng bốn câu này thì vẫn còn nguyên trong đầu.

Cho nên rất có thể ngay lúc này, trong nhà mình, có một người vừa nhận ra bài thơ mà chính mình từng thuộc lòng hồi bằng tuổi con mình bây giờ. Hai mươi chữ ấy đi hơn một nghìn hai trăm năm để tới được lớp học của bố mẹ. Rồi nằm im trong trí nhớ thêm mấy chục năm nữa, đợi tới hôm nay để vang lên lần nữa, giữa phòng khách, trước mặt lũ trẻ.

Rồi sẽ tới rằm tháng tám.

Đêm Trung thu, trẻ con Việt Nam xách đèn ra sân. Trống lân nổi ngoài ngõ, bánh nướng bánh dẻo bày trên mâm, tiếng cười inh ỏi khắp xóm. Giữa lúc ồn ào nhất, thế nào cũng có một đứa tự nhiên đứng khựng lại, ngửa cổ lên trời, và nhìn mặt trăng thật lâu, chẳng vì lý do gì cả.

Đứa bé ấy không hề biết mình vừa làm gì đâu. Nó vừa làm đúng cái động tác của người đàn ông tỉnh giấc nửa đêm kia, cách nó hơn một nghìn hai trăm năm.

Và sau lưng nó, trên nền gạch ngoài sân, trăng vừa đổ xuống một mảng trắng dài. Mỏng, và lạnh, y như có ai đó vừa rắc sương xuống đấy.

Câu chuyện gần đây