Hoàng Đạo Bà và nghề dệt bông
Đôi bàn tay ấy đã già lắm rồi. Da mỏng, gân nổi lên xanh, các khớp ngón to ra vì năm tháng. Vậy mà chúng đang làm một việc mà cả gian nhà này không ai làm nổi.
Một bàn chân bà nhịp đều xuống bàn đạp. Cái xa quay chạy, kêu một tiếng ro ro trầm trầm. Và từ đám bông trắng dưới tay bà, không phải một sợi, mà ba sợi cùng chạy ra một lúc. Ba mối sợi song song, mảnh như tơ nhện, cùng se lại, cùng cuốn vào suốt. Không sợi nào đứt.
Mấy người đàn bà trẻ trong làng ngồi vòng quanh, im phăng phắc. Họ đã ngồi sau khung cửi từ bé. Họ chưa từng thấy ai kéo ba mối sợi một lúc mà sợi không đứt giữa chừng. Có người xích lại thật gần, cố nhìn cho ra bà lão đã sửa cái gì trong chiếc xa quay. Có người thì chỉ nhìn hai bàn tay.
Chỗ ấy gọi là Ô Nê Kinh, một cái làng nằm cách phủ Tùng Giang chừng năm mươi dặm về phía đông. Đất ở đó bạc màu, ruộng mỏng, trồng lúa không đủ ăn, nên người làng xoay sang trồng bông. Trồng thì được. Nhưng làm ra một tấm vải thì cực nhọc vô cùng.
Còn người đàn bà tóc đã bạc trắng đang ngồi giữa họ chính là người của làng này. Bà sinh ra ở đây. Chỉ có điều bà đi lâu quá, lâu đến mức lúc quay về gần như chẳng còn ai nhận ra bà nữa. Về sau, cả vùng gọi bà là Hoàng Đạo Bà.
Bà rời nhà từ rất sớm, khi còn nhỏ lắm. Những năm đầu đời của bà rất khó khăn. Rồi một ngày bà xuống một con thuyền, và con thuyền ấy đưa bà đi mãi về phương nam, cho tới khi cập vào một hòn đảo lớn giữa biển. Đảo Hải Nam. Bà dừng chân ở vùng Nhai Châu, một mình, giữa nơi hoàn toàn xa lạ.
Và ở nơi xa lạ ấy, người dạy bà nên nghề là những người phụ nữ Lê.
Người Lê đã sống lâu đời trên đảo Hải Nam, và nghề dệt trong tay họ khi ấy đã vào hàng tinh xảo bậc nhất. Phụ nữ Lê kéo sợi từ bông, từ gai và nhiều loại sợi cây khác. Họ nhuộm vải bằng những màu lấy từ cây cỏ. Họ dệt hoa văn nổi hẳn lên mặt vải, rồi thêu những đường thêu hiện rõ cả hai mặt, mặt nào cũng đẹp như nhau.
Hoa văn của người Lê không phải chỉ để cho vui mắt. Người Lê xưa không dùng chữ viết, nên bao nhiêu truyền thuyết, bao nhiêu điều tin và điều kiêng của cả tộc người đều được ghi bằng chỉ màu ngay trên tấm vải. Tấm vải chính là cuốn sách của họ.
Nghề ấy các bà mẹ Lê truyền cho con gái, dạy từ khi đứa bé còn rất nhỏ, dạy bằng lời nói và bằng cách cầm tay chỉ việc.
Những người phụ nữ ấy nhận đứa bé lạc loài từ đất liền trôi tới vào giữa họ, và dạy cho nó tất cả những gì họ biết. Bà ở lại Hải Nam không phải vài mùa, mà mấy chục năm. Bà học tách hạt, học bật bông, học kéo sợi, học nhuộm, học đưa thoi cho hoa văn hiện lên đúng chỗ. Đến khi tóc bà bạc thì đôi tay ấy đã làm được mọi việc mà các bà thầy của mình làm được.
Rồi bà về. Người đời sau chép lại rằng chuyến ấy vào khoảng năm một nghìn hai trăm chín mươi lăm, dù chuyện đời bà phần lớn do người sau ghi lại, nên không ai dám nói chắc từng mốc.
Làng cũ vẫn nghèo y như ngày bà đi. Bông thì có, nhưng người làng gỡ hạt ra khỏi bông bằng tay, ngồi bóc từng hạt một, mười đầu ngón tay tướp cả đi. Chưa ai ở đây biết đến cái bàn cán. Chưa ai biết đến cây cung bật bông. Làm xong một tấm vải mất bao nhiêu là ngày công.
Bà lão ấy có thể giữ nghề cho riêng mình. Một người thợ giỏi hơn hẳn người xung quanh thì sống được cả đời, con cháu cũng sống được. Bà không làm thế. Bà đem nghề ra dạy cả làng.
Bà chỉ cho họ cách đóng cái bàn cán: hai trục gỗ quay ngược chiều nhau, đưa nắm bông vào giữa thì hạt bị chặn lại một bên, còn bông sạch chạy ra bên kia. Cái việc cả làng ngồi bóc bằng tay suốt bao nhiêu đời, giờ chỉ còn là quay tay một lúc.
Bà chỉ cho họ cây cung bật bông, căng dây lên rồi gõ, để cả nắm bông cứng bung tơi ra như mây.
Rồi bà sửa lại chiếc xa quay. Sợi bông mảnh và yếu hơn sợi gai, kéo mạnh là đứt, nên bà chỉnh lại chiếc xa quay cho vừa với sợi bông. Sửa xong, một người ngồi đạp có thể kéo ba mối sợi cùng lúc mà không mối nào đứt.
Cuối cùng bà dạy phần khó nhất: cách so chỉ, phối màu, dắt sợi dọc sợi ngang sao cho hoa văn nổi lên. Từ khung cửi Ô Nê Kinh bắt đầu ra đời những tấm chăn, tấm đệm, những dải thắt lưng, những chiếc khăn có hình cành hoa gãy, có hình chim phượng cuộn tròn, có ô bàn cờ vuông vắn, rõ ràng đến mức nhìn xa cứ ngỡ ai vẽ lên vải.
Người làng học được thì đua nhau làm. Vải Ô Nê Kinh theo thuyền, theo xe đi bán sang các phủ khác. Cái làng đất cằn ngày trước ăn còn chẳng đủ, ít lâu sau đã khá lên trông thấy, và tiếng tăm vải vóc vùng ấy lan rất xa.
Rồi bà mất.
Người làng khóc bà. Không phải một nhà khóc, mà cả làng. Họ cùng nhau lo chôn cất bà, dựng cho bà một ngôi đền nhỏ, và cứ đến mùa lại mang lễ ra cúng. Ba mươi năm sau, ngôi đền ấy đổ. Một người trong làng tên Triệu Ngu Hiên đứng ra dựng lại. Rồi nó đổ lần nữa, và lần này không còn ai dựng tiếp. Cái tên Đạo Bà cứ thế nhạt dần đi trong trí nhớ người ta.
Nhưng có một thứ thì không đổ được.
Cái bàn cán vẫn quay trong sân từng nhà. Cây cung vẫn bật bông ở góc bếp. Chiếc xa quay ba mối sợi vẫn chạy trong tay hết lớp đàn bà này đến lớp đàn bà khác. Bà đã cho đi thứ duy nhất mà cho rồi vẫn còn nguyên trong tay mình: một cái nghề. Đền có thể đổ, chứ nghề thì nằm trong tay người ta, mà tay thì truyền được sang tay.
Còn nghề dệt của những người thầy đầu tiên, những người phụ nữ Lê ở Hải Nam, thì đến hôm nay vẫn sống. Các bà mẹ Lê vẫn dạy con gái kéo sợi, nhuộm màu, dệt hoa văn theo đúng lối cũ. Và thế giới đã ghi tên nghề ấy vào danh sách di sản văn hóa quý giá của loài người.
Chỗ này thì chắc cả nhà thấy quen.
Ở mình cũng vậy thôi. Trong những làng dệt lụa ven sông, trong những bản có khung cửi kê ngay dưới sàn nhà, tiếng thoi đưa lách cách vẫn là tiếng của một bài học đang được trao tay. Một bà cụ ngồi sau khung cửi. Một đứa cháu gái ngồi sát bên. Và bà cầm lấy tay đứa bé, đặt lên sợi chỉ, y hệt cách những người phụ nữ Lê ngày xưa đã cầm tay một đứa bé lạ từ xa trôi tới.
Nghề đi từ tay sang tay, và mỗi lần như thế thì nó lại sống thêm một đời nữa.
Nên nếu có hôm nào cả nhà đi ngang một cái sân có tiếng xa quay chạy đều, thử dừng lại nhìn sợi chỉ chạy ra. Một sợi hay ba sợi thì cũng thế: đằng sau nó bao giờ cũng có một người đã chịu ngồi xuống dạy cho người khác.