Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Thương Hiệt và những dấu vết cố ý để lại

0:000:00

Sau một trận mưa, chỗ đất mềm nhất trong sân bao giờ cũng nằm ngay mép vũng nước. Ngồi xổm xuống đó, ghé mắt thật gần, sẽ thấy bùn không phẳng. Bùn có vết.

Một con chim vừa đi ngang để lại ba ngón mảnh chĩa về phía trước, ngón giữa dài hơn cả, và một ngón nữa chìa ngược ra sau. Con chó nhà để lại bốn miếng tròn mềm chụm quanh một miếng lớn hơn, kèm mấy chấm nhọn của móng. Con mèo cũng in bốn miếng tròn như thế, mà tuyệt nhiên không có chấm móng nào, vì mèo bước đi thì giấu móng vào trong. Con vịt thì để lại nguyên một cái quạt nhỏ, ba ngón nối liền nhau bằng màng.

Ngồi lâu thêm chút nữa sẽ nhận ra điều này: không loài nào để lại cái dấu giống loài nào. Con vật đã đi mất từ lâu. Nó không còn đứng đó để xưng tên. Vậy mà cứ nhìn xuống bùn, người ta vẫn gọi đúng tên nó.

Một dấu vết là thứ ở lại sau khi kẻ để lại nó đã đi. Nghe thì giản dị, nhưng ý ấy lớn hơn vẻ ngoài của nó rất nhiều. Người Trung Hoa xưa có hẳn một câu chuyện về người đầu tiên cúi xuống nhìn những vết chân trên đất rồi hiểu ra nó lớn cỡ nào.

Chuyện ấy nằm trong một bộ sách rất cũ tên là Thuyết Văn Giải Tự, do ông Hứa Thận chép lại cách đây gần hai nghìn năm. Sách kể rằng thuở ấy chưa có chữ. Đời xa xưa hơn nữa, ông Phục Hy ngẩng lên nhìn trời, cúi xuống nhìn đất, nhìn cả những đường vằn trên lông chim lông thú, rồi vạch ra tám quẻ. Tới đời Thần Nông, việc trong thiên hạ được giữ bằng dây thắt nút.

Một sợi dây thừng, thắt nút to cho việc lớn, nút nhỏ cho việc nhỏ, mấy nút liền nhau cho mấy lần. Cách ấy đủ dùng khi việc còn ít. Nhưng người mỗi ngày một đông, việc mỗi ngày một nhiều, và sợi dây bắt đầu đuối sức. Nút thắt đếm được bao nhiêu, chứ không nói nổi là cái gì. Nó không giữ được một cái tên. Nó không giữ được một câu đã hứa. Hai người cùng cầm một sợi dây mà nhớ ra hai chuyện khác nhau, rồi chuyện sai lệch cứ thế nảy ra.

Trong triều vua Hoàng Đế có một viên quan chuyên lo việc ghi chép, tên là Thương Hiệt. Công việc của ông gói gọn trong một chữ: nhớ. Nhớ hộ cho cả thiên hạ. Ai nộp bao nhiêu, ai hẹn ngày nào, ai đã nói câu gì. Mà trí nhớ của một người thì cũng chỉ bằng một người thôi.

Rồi một hôm, Thương Hiệt đi ra ngoài, và ông cúi xuống nhìn mặt đất.

Trên đất có vết chân chim, có vết móng thú. Ông nhìn rất lâu. Rồi ông thấy đúng cái điều mà bất kỳ đứa trẻ nào ngồi bên vũng nước cũng thấy được: mỗi loài một kiểu vạch riêng, phân biệt được với nhau, không lẫn vào đâu.

Và từ chỗ ấy, ông bước thêm một bước nữa, bước quan trọng nhất. Con chim để lại dấu mà chẳng hề định để lại. Nó chỉ đi ngang qua thôi. Nhưng nếu một cái dấu vô tình còn nói được rằng có con chim đi qua đây, thì một cái dấu cố ý sẽ nói được nhiều hơn thế. Người ta có thể tự tay vạch ra những cái dấu của riêng mình, vạch có chủ đích, để giữ lại lời đã nói.

Đó chính là chữ viết. Không phải phép lạ, cũng không phải bùa chú. Chữ viết là một dấu vết được cố ý để lại.

Những con chữ đầu tiên vì thế là hình. Chúng đi theo dáng của vật, vật thế nào thì nét thế ấy, nên người xưa gọi lớp chữ ấy là văn. Về sau người ta biết ghép cái hình với cái tiếng, làm ra được thêm rất nhiều chữ mới, và gọi lớp sau là tự. Sách chép rằng lớp chữ sau này sinh sôi nảy nở như con cháu trong một nhà, đời nào cũng đông thêm. Còn khi những con chữ ấy được viết lên thẻ tre, lên tấm lụa, thì gọi là thư.

Chỗ này mới là chỗ đáng ngồi nghĩ một lát, cả nhà. Thế giới sau hôm ấy khác hẳn thế giới trước hôm ấy. Trăm nghề vào được nền nếp, muôn việc soi xét ra được. Một lời hứa nói ra giữa mùa xuân, tới mùa thu vẫn nằm nguyên chỗ cũ cho người ta mở ra xem lại. Và từ đó, lời nói không còn bay đi mất nữa.

Có một bộ sách cổ khác, bộ Hoài Nam Tử, chép về ngày ấy bằng một câu nghe rất lạ. Sách chép rằng hôm Thương Hiệt làm ra chữ, trời đổ mưa hạt kê xuống, và trong đêm có tiếng khóc.

Người xưa hay nói bằng hình ảnh như vậy. Mưa hạt kê là mưa lương thực. Hạt kê là thứ người ta trồng để ăn, nên trời đổ hạt kê xuống nghĩa là của cải rơi đầy mặt đất, nhiều như cả một mùa gặt trút xuống trong một ngày. Còn tiếng khóc trong đêm thì không phải để dọa ai cả. Đó là lối nói của người xưa, rằng những gì lâu nay vẫn nấp được trong bóng tối thì từ nay khó nấp, vì đã có cách ghi lại. Gộp hai hình ảnh ấy vào nhau, người xưa chỉ muốn bảo nhau một điều: hôm ấy thế giới đổi khác, và không quay về như cũ được nữa.

Thương Hiệt có thật hay không thì chẳng ai dám nói chắc. Sách chép ông là quan giữ việc ghi chép cho vua Hoàng Đế, mà chính vua Hoàng Đế cũng đứng ở chỗ giáp ranh, nơi truyền thuyết và lịch sử lẫn vào nhau. Người ta kể chuyện này không phải để trả lời xem ai là người đầu tiên. Người ta kể để giữ lấy cái ý nằm giữa nó, cái ý mà tối nay ai cũng kiểm lại được bên một vũng nước: dấu vết ở lại lâu hơn kẻ đã để lại nó.

Ở Việt Nam mình, mỗi năm có một dịp để nhìn tận mắt một cái dấu đang được cố ý làm ra. Những ngày giáp Tết, bên hồ Văn trước cửa Văn Miếu Quốc Tử Giám, các ông đồ trải chiếu ngồi viết. Hội chữ Xuân ở đó mở từ ngày hai mươi tháng Chạp cho tới rằm tháng Giêng.

Trước mặt mỗi ông đồ là một cái nghiên, một thỏi mực, một chồng giấy đỏ. Mực được mài chầm chậm, mài tới khi đủ đen thì thôi. Cây bút lông chấm vào, gạt nhẹ vào miệng nghiên cho ráo bớt. Rồi ngòi bút chạm xuống tờ giấy đỏ, và một con chữ hiện ra ngay trước mắt người đứng xem. Người lớn hay xin chữ Phúc, chữ Lộc, chữ Thọ, chữ An Khang. Trẻ con thì hay được xin cho chữ Học, chữ Hiếu, chữ Lễ. Xin xong thì mang về treo lên tường, và suốt cả năm, sáng nào tờ giấy ấy cũng nói đúng một điều như hôm đầu.

Tối nay, nếu trời vừa tạnh mưa, sân nhà mình lại có bùn mềm. Cả nhà ra đó ngồi xuống, tìm cho ra ba ngón mảnh của con chim, bốn miếng tròn của con chó, cái quạt có màng của con vịt. Rồi nhặt một cái que, và cố ý vạch xuống bên cạnh chúng một nét của riêng mình.

Sáng mai bùn khô lại. Vết chân chim vẫn còn nguyên đó, còn con chim thì đã bay đi từ lâu. Và cái nét vừa vạch cũng vẫn nằm đó, đợi một người đi ngang đọc được.

Câu chuyện gần đây