Trương Khiên đi về phía tây
Buổi sáng đoàn người bước ra khỏi cửa ải Lũng Tây, ngoài kia chỉ có gió và cỏ.
Hơn một trăm người xếp thành hàng dài. Ngựa thồ, túi nước, lương khô. Đi trước tất cả là một người cầm cây cờ tiết của nhà vua, thứ giấy thông hành duy nhất cả đoàn có. Tên ông là Trương Khiên. Hướng đi là phía tây.
Còn phía tây thì tới đâu, trong kinh đô không ai trả lời được. Chưa ai trong triều đình từng cầm một tấm bản đồ nào của vùng đất ấy.
Việc được giao thì gọn. Ở đâu đó ngoài kia có một bộ tộc tên là Nguyệt Chi. Họ đã bỏ quê cũ, đi mãi, và giờ không ai còn biết họ dừng chân ở đâu. Nhiệm vụ là tìm cho ra họ. Khi lời kêu gọi truyền đi trong kinh thành, Trương Khiên, lúc ấy chỉ là một viên quan trẻ hầu cận, đứng ra xin nhận.
Đi cùng ông có một người tên Cam Phụ, gốc Hung Nô, bắn cung rất giỏi. Những hôm lương cạn giữa đường, chính ông bắn chim bắn thú cho cả đoàn có cái ăn.
Năm ấy là năm một trăm ba mươi tám trước Công nguyên.
Mấy chặng đầu còn có làng, có giếng. Rồi làng thưa dần. Rồi hết hẳn. Chỉ còn cỏ khô, đá, và một đường chân trời phẳng lì. Vùng ấy là đất của người Hung Nô, những người sống trên lưng ngựa, đưa đàn gia súc đi theo mùa cỏ, thuộc từng lối mòn hơn bất cứ ai.
Đoàn người bị chặn lại. Rồi bị giữ.
Người Hung Nô không hại ông. Họ cho ông sống giữa họ, và thời gian bắt đầu trôi theo một cách chẳng ai ngờ.
Ông học tiếng của họ, học cách sống qua mùa đông trên thảo nguyên. Rồi người ta gả cho ông một người vợ. Hai người có với nhau một đứa con.
Hơn mười năm trôi qua như thế. Đứa bé chào đời trong lều năm nào, tới lúc này chắc đã lớn lắm rồi.
Suốt ngần ấy năm, có đúng một thứ ông không chịu buông. Cây cờ tiết cầm hôm rời cửa ải, ông vẫn giữ bên mình. Ở đó chẳng ai đọc được nó, chẳng ai cần nhìn nó. Nhưng chừng nào nó còn trong tay ông thì việc được giao vẫn chưa xong.
Rồi một hôm, ông đi.
Đây là chỗ khó hiểu nhất của câu chuyện. Ông đã có mái nhà, có vợ, có con, có một đời sống đã yên. Vậy mà ông vẫn cùng Cam Phụ lặng lẽ rời đi, quay mặt đúng về cái hướng mà hơn mười năm trước ông được lệnh phải đi.
Đi ròng rã mấy chục ngày thì tới một xứ tên là Đại Uyển.
Đại Uyển làm ông sững người. Ở đó người ta trồng nho ép rượu, thứ rượu để mấy chục năm vẫn chưa hỏng. Ngựa thì cao lớn hơn hẳn thứ ngựa ông quen, và khi gắng sức thì mồ hôi ứa ra ánh đỏ như máu, nên người trong vùng bảo nhau chúng là dòng dõi ngựa trời. Giống ngựa ấy mê một loại cỏ tên là mục túc.
Người Đại Uyển tin lời ông và đưa ông sang xứ Khang Cư. Khang Cư lại đưa ông đi tiếp, tới tận chỗ người Đại Nguyệt Chi.
Ông đã tìm ra họ. Sau mười mấy năm, ông đứng trước đúng những người ngày xưa ông đi tìm.
Nhưng họ không muốn đi đâu nữa. Đất mới rộng và màu mỡ, đời sống đã yên, chuyện cũ họ không còn muốn nhắc. Ông ở lại hơn một năm, nói mãi vẫn không xong, rồi đi tiếp sang xứ Đại Hạ.
Đại Hạ có một tòa thành lớn tên là Lam Thị. Trong thành có chợ, họp đông, bán đủ thứ hàng hóa.
Trương Khiên đi ngang qua chợ ấy. Rồi ông đứng lại.
Trên một sạp hàng có mấy cây gậy trúc và một xấp vải.
Ông nhìn kỹ. Loại trúc đó ông biết, nó mọc ở đất Cùng. Còn xấp vải kia thì dệt ở đất Thục. Cả hai đều là hàng của quê nhà. Mà quê nhà thì cách chỗ ông đang đứng hàng vạn dặm.
Ông hỏi người bán, mấy thứ này ở đâu ra.
Câu trả lời thản nhiên như thể ông vừa hỏi một chuyện ai cũng biết. Lái buôn bên chúng tôi sang xứ Thân Độc mua về.
Với người bán hàng, đó là chuyện thường ngày. Với người đang đứng nghe, nó lật ngược mọi thứ. Nếu tấm vải đất Thục có mặt ở cái chợ này, nghĩa là đã có sẵn một con đường nối từ quê ông tới đây. Một con đường có người đi, có kẻ buôn, có chỗ dừng chân, và đã chạy từ lâu lắm rồi. Chỉ có điều cả triều đình nơi ông xuất phát không hề biết là nó tồn tại.
Người ta cử ông đi tìm một bộ tộc. Ông tìm ra một con đường.
Đường về, ông chọn lối khác, rồi lại bị giữ thêm hơn một năm. Lần này thoát được là nhờ vận may. Trong vùng có chuyện lộn xộn, và giữa lúc ấy ông lặng lẽ đi.
Ông không đi một mình. Ông dẫn theo người vợ Hung Nô của mình, và dẫn theo Cam Phụ, người đã đi cùng ông từ ngày đầu tiên.
Rồi cũng tới ngày đoàn về được tới kinh đô.
Hơn một trăm người ra đi. Mười ba năm sau, hai người trở về.
Ở nhà, người ta đã thôi chờ ông từ lâu. Mười ba năm là quá đủ để một người được coi như đã mất. Vậy mà ông về, còn sống, tay vẫn cầm cây cờ tiết cũ đã bạc màu, bên cạnh là vợ và người bạn đường.
Thứ ông mang về không phải vàng bạc. Ông mang về những cái tên.
Đại Uyển, Khang Cư, Đại Nguyệt Chi, Đại Hạ, Thân Độc, và năm sáu xứ lớn nữa ông mới chỉ nghe kể. Ông tâu lại từng nơi một, ở đó người ta trồng gì, nuôi con gì, chợ búa thành quách ra sao. Vùng đất trước đó chỉ là khoảng trắng, giờ có hình, có tên, có đường vào.
Rồi hạt nho và hạt cỏ mục túc cũng theo chân các đoàn sứ mà về, được gieo xuống những mảnh đất tốt, và mọc lên thật.
Lạ nhất là ông không dừng lại. Mấy năm sau, ông lại dẫn một đoàn ba trăm người đi về phía tây thêm chuyến nữa. Không ai biết rõ ngoài kia có gì bằng ông. Và ông vẫn đi.
Con đường ông đi hồi ấy chưa có tên. Về sau nó mới mang một cái tên mà bây giờ nhà nào cũng từng nghe qua. Con đường tơ lụa.
Cái tên nghe như thể đã có ai đó bỏ công xây nó lên. Thật ra chẳng ai xây cả. Nó chỉ là chợ nối vào chợ, làng nối vào làng, món hàng đổi chủ hết chặng này sang chặng khác, cứ thế mà dài ra qua sa mạc và núi.
Ở nhà mình, lụa cũng là chuyện thân thuộc. Bên Hà Đông có làng Vạn Phúc, khung cửi chạy lách cách từ đời này sang đời khác và tới giờ vẫn chưa nghỉ. Tấm lụa mềm mát trôi qua kẽ tay cả nhà hôm nay chính là món hàng mà ngày xưa người ta phải băng qua mấy sa mạc mới đưa nổi sang đầu kia bản đồ.
Nếu chỉ được giữ lại một cảnh trong suốt mười ba năm ấy, cả nhà cứ giữ cảnh này. Một buổi trưa trong cái chợ lạ ở thành Lam Thị, giữa tiếng người mặc cả bằng thứ tiếng ông không hiểu, một người đàn ông đứng lặng trước sạp hàng, tay chạm vào một xấp vải dệt ở quê mình, cách nhà hàng vạn dặm. Và ông bắt đầu hiểu ra rằng con đường ông mất mười mấy năm đi tìm thì hóa ra đã nằm sẵn ở đó, từ trước buổi sáng ông bước qua cửa ải Lũng Tây.