Chuyen.AIPlaylist
Trung Hoa

Vương Hy Chi và cái ao đen mực

0:000:00

Một chiếc chén rượu nhỏ đang trôi trên mặt nước.

Nó đi rất chậm, theo một khe suối hẹp uốn khúc giữa mấy phiến đá, dưới bóng trúc vừa lên lá non. Nước đầu xuân còn lạnh, trong đến mức nhìn thấy từng viên sỏi dưới đáy. Dọc hai bên bờ, chừng bốn chục người ngồi trên cỏ, im phăng phắc, mắt ai cũng dõi theo chiếc chén ấy.

Bởi vì hôm đó có một luật chơi. Chén trôi tới trước gối ai mà dừng lại, thì người đó phải làm ngay một bài thơ. Làm được thì cả nhóm vỗ tay. Làm không được thì phải uống cạn chén rượu.

Chén chạm nhẹ vào một mỏm đá, xoay nửa vòng, rồi đứng yên. Một người vội ngẩng lên nhìn trời, mấp máy môi, rồi bật cười chịu thua. Tiếng cười chạy dọc bờ suối.

Chỗ ấy tên là Lan Đình, ở đất Sơn Âm thuộc quận Cối Kê, nay là Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Hôm ấy là mùng ba tháng ba, ngày người xưa rủ nhau ra bờ nước rửa tay rửa mặt cho những điều xui rủi của mùa đông trôi theo dòng. Năm ấy là năm ba trăm năm mươi ba.

Có người nghĩ ra thơ ngay. Có người ngồi mãi không ra chữ nào, đành chịu phạt uống.

Người đứng ra mời cả nhóm hôm ấy tên là Vương Hy Chi. Ông sống vào khoảng thế kỷ thứ tư, và tới giờ các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất ông sinh năm nào, mất năm nào. Thuở nhỏ ông học viết chữ với một người thầy là phụ nữ, Vệ phu nhân. Con út của ông sau này cũng nổi danh về chữ, đến mức người ta gọi gộp hai cha con là Nhị Vương. Còn riêng ông, từ khoảng đời Đường trở đi, được tôn là Thư thánh, nghĩa là bậc thánh của chữ viết.

Chiều hôm đó, những bài thơ làm được trong ngày được gom thành một tập. Tập thơ cần một bài tựa, và Vương Hy Chi cầm bút.

Bài tựa ấy dài ba trăm hai mươi tư chữ, xếp thành hai mươi tám dòng. Ông viết theo lối hành thư, lối chữ đi nhanh, nét nọ còn vương hơi nét kia, như người vừa đi vừa nói.

Và trong ba trăm hai mươi tư chữ ấy có một điều lạ mà người đời sau soi mãi không chán.

Có một chữ rất nhỏ, chữ chi. Đó là loại chữ nối, thứ chữ vụn vặt mà ai viết chữ Hán cũng phải viết lại mỗi ngày mấy chục lần, quen tay đến mức gần như không còn để ý. Trong bài tựa Lan Đình, riêng chữ chi người ta đếm được tới hai mươi lần. Và không lần nào ông viết giống lần nào.

Hai mươi chữ chi, hai mươi dáng khác nhau. Cái gọn ghẽ như một cái gật đầu. Cái mở rộng, nét cuối kéo dài ra như một hơi thở nhẹ nhõm. Cái hơi nghiêng đi, như đang bước. Cây bút đi theo hơi thở của người cầm nó, nên hai mươi chữ chi kia là hai mươi nhịp thở khác nhau của cùng một người, trong cùng một buổi chiều bên suối.

Con người ấy thì thế nào? Sách cũ chép một chuyện mà trẻ con nghe xong là nhớ ngay.

Vương Hy Chi mê ngỗng. Không phải mê ăn, mà mê ngắm. Ông thích nhìn đàn ngỗng bơi, thích cái cổ dài cứ uốn qua uốn lại trên mặt nước, mềm mà chắc. Nghe tin có một vị đạo sĩ nuôi được đàn ngỗng đẹp, ông chèo thuyền tới hỏi mua. Đạo sĩ không bán. Đạo sĩ nói mình chỉ ao ước có một bản Đạo Đức Kinh do chính tay ông chép, lụa đã chuẩn bị sẵn từ lâu mà chưa mời được ai. Thế là Vương Hy Chi ngồi xuống chép hai chương sách, mất nửa ngày trời. Chép xong, ông xếp hơn mười con ngỗng vào lồng, khuân xuống thuyền, hớn hở chở về.

Còn một chuyện nữa, và chuyện này thì phải nói rõ ngay. Đây là truyền thuyết, do người đời sau truyền lại, chứ không ai từng chứng kiến. Người ta kể rằng thuở nhỏ ông luyện chữ bên một cái ao trong sân chùa. Viết xong một trang, ông ra ao rửa bút, rửa nghiên, rồi quay vào viết tiếp. Ngày này qua ngày khác, mực tan dần vào nước, cho tới lúc cả cái ao đen kịt. Từ đó người trong vùng gọi nó là ao mực.

Cả nhà cứ nghe câu chuyện đó như nghe một cách nói. Muốn tay mình nghe lời mình thì phải mài đủ lâu, đủ nhiều lần, đến mức nước ao cũng đổi màu.

Mấy trăm năm sau, tới đời Đường, có một ông vua tên Đường Thái Tông mê chữ Vương Hy Chi tới mức cho người lùng khắp nơi, gom cho bằng hết những gì còn sót lại. Sổ sách trong cung đời Đường về sau ghi hơn hai nghìn tác phẩm đứng tên ông. Trong tất cả, nhà vua quý nhất bài tựa Lan Đình. Tương truyền lúc nhà vua qua đời, bản gốc ấy được chôn theo vào trong lăng.

Không một bản gốc nào của Vương Hy Chi còn lại trên đời. Mọi bức treo trong bảo tàng, mọi trang in trong sách tập viết, tất cả đều là bản chép. Có bản do thợ đời Đường đặt giấy thật mỏng lên bản gốc rồi đồ lại từng nét. Có bản là bản rập từ đá. Rồi người sau lại chép từ những bản chép ấy, đời này qua đời khác. Bản gần bản gốc nhất do Phùng Thừa Tố đồ lại, gọi là bản Thần Long, nay giữ trong Bảo tàng Cố Cung ở Bắc Kinh.

Bài tựa viết ra đã hơn một nghìn sáu trăm năm. Từ đời Đường trở đi không ai còn thấy bản gốc nữa. Cả quãng đường dài còn lại là chuyện của những cái bóng chép tay.

Chuyện nghe thì xa, mà thật ra rất gần.

Cây bút lông, thỏi mực, tờ giấy đỏ và cái nếp coi trọng nét chữ là của chung cả một vùng rộng lớn. Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, mỗi nơi cầm cùng một cây bút mà viết theo cách riêng, rồi qua lại học hỏi nhau bao nhiêu đời. Người Việt còn đi thêm một bước nữa. Từ khoảng thế kỷ thứ mười, ông cha mình lấy chính bộ chữ ấy làm nguyên liệu, ghép lại, chế thêm, làm ra một thứ chữ mới ghi đúng tiếng nói của người Việt. Đó là chữ Nôm, thứ chữ đã viết nên Truyện Kiều.

Cho nên mỗi dịp Tết, ở Văn Miếu Quốc Tử Giám giữa Hà Nội, cái buổi chiều bên suối Lan Đình vẫn còn vọng lại một chút. Các ông đồ mặc áo the, đội khăn xếp theo đúng lệ cũ, ngồi sau chiếu, nghiên mực để bên tay, giấy đỏ trải trước mặt. Người ta xếp hàng xin chữ đầu năm. Xin chữ Bình An treo trong nhà. Xin chữ Đăng Khoa cho đứa con sắp đi thi. Ông đồ hỏi tên, hỏi tuổi, hỏi mong điều gì, rồi mới hạ bút, và cây bút đi một mạch không dừng.

Người mình có câu nét chữ nết người. Chữ không chỉ để đọc. Chữ còn để lộ ra người cầm bút hôm ấy đang thong thả hay đang vội, đang vui hay đang nghĩ ngợi.

Tết này, nếu cả nhà đứng xem một ông đồ viết chữ, hãy để ý chỗ này. Cùng một chữ, viết hai lần, không bao giờ ra hai nét giống hệt nhau. Không phải vì ông đồ viết sai. Mà vì bàn tay người là bàn tay người.

Còn chiếc chén rượu ở Lan Đình thì đã trôi hết dòng suối ấy từ lâu lắm rồi. Khe suối vẫn còn đó, vẫn uốn khúc quanh mấy phiến đá. Bài tựa thì chỉ còn cái bóng của nó, chép đi chép lại qua không biết bao nhiêu bàn tay. Vậy mà hai mươi chữ chi, trong từng cái bóng một, vẫn không chữ nào chịu giống chữ nào.

Câu chuyện gần đây