Chuyen.AIPlaylist
Việt Nam

Báo Luông - Slao Cải

0:000:00

Mưa trút xuống rừng già như thể trên trời vừa có một con sông vỡ bờ. Nước chảy trắng trên mặt đá, gom lại thành dòng, dâng lên quanh những gốc cây to. Trong màn mưa mù mịt ấy có hai bóng người đang chạy. Hai bóng người khổng lồ.

Bước chân họ nện xuống đất nghe lụp bụp, mỗi bước là qua cả một bụi cây, làm nước bắn lên cao. Người con trai cao lớn như cây đa cổ thụ ngàn năm, hai cánh tay dài như cành gạo vươn ra. Hôm ấy hai người mới gặp nhau lần đầu, giữa rừng, trong lúc đi tìm cái ăn gần vùng Pác Măn. Trời còn sáng thì tối sập lại, và bây giờ cả hai cùng chạy về một phía. Ở đó, dưới chân núi, có một miệng hang đen thẫm đang mở ra.

Cái hang ấy tên là Ngườm Bốc. Người Tày ở Hòa An, đất Cao Bằng, vẫn kể như thế. Rằng thuở xa xưa ấy, trên cả vùng núi rộng lớn này chỉ có hai con người. Người con trai tên là Báo Luông, nghĩa là chàng trai to. Người con gái tên là Slao Cải, nghĩa là cô gái lớn. Bà cũng cao lừng lững như cây lai, tay dài như cành trám.

Trong hang khô ráo và ấm. Gió rét không lùa vào được. Phía cửa hang thấp hơn, chỗ người Tày gọi là Pác Ngườm, có nước trong chảy ra, có cá, có tôm, có cua bò trên đá ướt. Đêm đầu tiên, hai người ngồi nghe mưa gõ ngoài kia mà không phải co người vì lạnh. Đó là chỗ trú đầu tiên trên mặt đất. Nhiều mùa mưa sau đó, họ nên một gia đình, và về sau có rất nhiều con, đông đến một trăm người.

Nhưng thuở ấy có một điều mà chưa ai trên đời biết tới. Đó là lửa. Con cá bắt dưới suối lên thì ăn ngay, lạnh và tanh. Củ đào được trong rừng thì ăn ngay, chát và cứng. Không ai hình dung nổi rằng trên đời có thể có một thứ vừa sáng, vừa nóng, lại vừa làm cho miếng ăn thơm lên.

Rồi một buổi, trời lại chuyển mưa. Mây đè thấp xuống ngọn cây. Một tiếng nổ khô khốc xé ngang rừng. Một tia lửa từ trên trời lao thẳng xuống, cắm vào một cây móc ở phía bên kia khoảng rừng, chẻ thân cây ra làm hai.

Khi tiếng ầm đã tan hết, Báo Luông và Slao Cải mới bước tới. Cây móc còn ngún khói, thân nứt một đường dài. Trong khe nứt ấy có một con thạch sùng, đã được lửa trời nướng chín. Từ đó dậy lên một mùi lạ, không giống bất cứ mùi nào trong rừng. Đó là mùi thơm.

Hai người nhìn nhau. Rồi họ nếm thử. Miếng thịt chín mềm và ngọt, còn ấm nóng, khác hẳn mọi thứ họ từng ăn suốt đời mình. Trên mặt đất này, đó là bữa ăn chín đầu tiên.

Từ hôm ấy, hai người để mắt tới ngọn lửa. Họ học cách gom cành khô cho lửa đừng tắt. Học cách ủ than dưới lớp tro để sáng ra vẫn còn hòn than hồng. Học cách đưa lửa vào hang cho những đêm mùa đông.

Và đêm ấy, lần đầu tiên vách đá trong hang Ngườm Bốc sáng lên một màu cam ấm. Hai cái bóng khổng lồ chạy dài trên vách, lay động theo ngọn lửa, còn ngoài kia mưa vẫn rơi. Có lửa rồi, con cá nướng lên thơm nức, củ vùi trong tro bở ra ngọt lịm. Hang Ngườm Bốc bắt đầu giống một mái nhà thật sự.

Rồi đến lượt hạt gạo. Slao Cải hay ra bờ suối, và bà để ý một thứ cỏ mọc dưới nước, đầu ngọn có những hạt nhỏ mà mẩy. Bà vun bùn, đem thứ cỏ ấy về trồng ở chỗ đất ướt, chăm cho nó lên xanh, rồi chờ nó chín vàng. Cây ấy, tiếng Tày gọi là co khẩu, tức là cây lúa.

Có hạt rồi lại phải nghĩ cách bỏ đi lớp vỏ. Bà khoét một hòn đá thành cái cối, gọi là dộc, chặt một khúc gỗ chắc làm cái chày, gọi là sác. Rồi giã. Ở một chỗ đất tên Nà Mỏ, bà nấu nồi cơm đầu tiên. Hơi nóng đội vung lên, và trong nồi là những hạt trắng tinh, không còn một mảnh vỏ nào. Mùi cơm mới tỏa ra khắp hang. Còn tiếng chày giã gạo thì từ đó về sau vang trong bản mường người Tày, sớm cũng nghe, chiều cũng nghe.

Còn Báo Luông thì nhìn ra cánh đồng. Ông lấy gỗ làm cái cày, làm cái bừa, rồi vỡ đất, mở ruộng hết lũng này sang lũng khác. Những cánh đồng rộng ở Hòa An, ở Nguyên Bình, người Tày vẫn kể là do hai người khổng lồ ấy mở ra.

Ông cũng không để thú rừng ở xa nữa. Ông dụ chúng về gần, quây lại, cho ăn, cho uống, giữ cho chúng quen mùi người. Con trâu đầu tiên còn dè dặt đứng xa, hếch mũi lên hít, rồi mới chịu bước tới ăn nắm cỏ trên tay ông. Rồi con nào cũng dần thân quen.

Đất thì rộng mênh mông, mà chưa nơi nào có tên. Hai người bèn gọi từng chỗ theo con vật ở đó. Trâu ở Lùng Hoài, lũng của trâu. Ngựa ở Khau Mạ, núi của ngựa. Bò ở Lùng Mò, lũng của bò. Dê ở Vỏ Bẻ, đồi của dê. Lợn ở Chông Mu, chỗ của lợn. Vịt ở Lậu Pất, chuồng của vịt. Còn cá thì ở Nà Pia, ruộng của cá.

Cả nhà cứ đáp theo mà xem. Con cá ở đâu? Nà Pia. Con vịt ở đâu? Lậu Pất. Còn con trâu ở đâu? Lùng Hoài.

Hai người sống rất lâu. Con cháu đông thành bản thành mường, chiều nào khói bếp cũng lên khắp sườn đồi. Đến khi tóc hai người đã bạc, không ai gọi Báo Luông với Slao Cải nữa. Người ta gọi bằng cái tên kính trọng dành cho ông bà, là Pú Luông và Giả Cải.

Rồi hai người rất già ấy cũng đi. Con cháu chọn một gò đất bên bờ suối Tả Sẩy và dựng lên đó một ngôi miếu. Để nhớ hai người đã dạy họ biết trồng lúa, biết nuôi con trâu con vịt, biết nhóm một bếp lửa trong hang giữa mùa đông. Con cháu gọi ngôi miếu ấy là miếu Pú Lương Quân, cũng gọi là miếu Thần Nông, một trong những ngôi miếu cổ nhất của tỉnh Cao Bằng. Rồi con cháu tỏa đi khắp vùng, nên bây giờ ở Cao Bằng, người Tày họ Nông, họ Bế hay họ Lương vẫn nhận mình là con cháu của hai người khổng lồ ấy.

Chuyện xưa là chuyện người Tày kể lại. Còn điều này thì thật. Trong lòng hang Ngườm Bốc, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những lớp đất cổ, dấu tích của người từng đến ở đây từ rất xa xưa.

Bây giờ, đi trên những con đường Hòa An, cả nhà sẽ gặp lại chính những cái tên ấy trong lời người dân đang nói với nhau. Lùng Hoài. Khau Mạ. Nà Pia. Trẻ con ở đây đọc tên chỗ mình ở mỗi ngày, và mỗi cái tên vẫn đi kèm câu chuyện về hai người khổng lồ.

Còn cái hang thì vẫn ở đó, dưới chân núi xã Hồng Việt. Cửa hang vẫn đen thẫm và mát lạnh, đúng như cái buổi hai người khổng lồ chạy vào tránh mưa. Ngoài kia, mưa Cao Bằng vẫn đổ trắng rừng mỗi mùa. Và sáng sớm, bên bờ suối, vẫn có người mang một nén hương đến ngôi miếu nhỏ, thắp lên cho hai người đã tìm ra ngọn lửa đầu tiên giữa cơn mưa ấy.

Câu chuyện gần đây