Pựt Luông tạo ra vẻ đẹp trần gian
Trong lòng người hát Then, có một cây đàn đang nằm im. Bầu đàn tròn vo, nhẵn bóng, tròn như một quả bầu khô úp xuống. Từ cái bầu ấy vươn lên một cần đàn dài và thẳng, làm bằng gỗ dâu. Trên suốt chiều dài cần đàn chỉ căng vẻn vẹn ba sợi dây. Không phải bốn, không phải năm. Đúng ba.
Người Tày ở vùng Bắc Kạn, Cao Bằng gọi cây đàn ấy là đàn tính, hay tính tẩu. Trước khi người hát cất tiếng, cây đàn cứ nằm đó, lặng thinh, như đang giữ kín một câu chuyện rất xưa. Vì sao lại đúng ba dây? Muốn biết, phải kể từ hồi trời đất còn mới tinh.
Người Tày mình vẫn kể rằng thuở ấy có một vị thần rất lớn tên là Pựt, có nơi gọi kính là Pựt Luông. Chính Pựt đã sinh ra muôn loài, sinh ra con người, dựng nên núi non sông suối, làm ra cả cái đẹp cho mặt đất này. Pựt có nhiều người con gái. Và người con gái thứ chín của Pựt là người thương trần gian hơn cả.
Nàng nhìn xuống trần, thấy mặt đất đã xanh cây, đã đủ chim đủ cá, người ta đã biết trồng lúa, biết dệt vải. Chỉ có một điều còn thiếu. Cả một thế gian rộng lớn mà vắng tiếng. Người ta làm lụng, ăn uống, rồi đi ngủ, chẳng ai biết hát một câu cho vui, chẳng ai biết nói với nhau bằng một điệu nhạc.
Thế là nàng con gái thứ chín xin phép cha, rồi bước xuống trần gian.
Nàng đi từ bản này sang bản khác. Gặp ai nàng cũng dạy. Nàng dạy người ta hát, những câu hát cất lên từ trong ngực, ấm như hơi thở. Nàng dạy người ta lượn, lối hát đối đáp của người Tày, người bên này ngân một câu, người bên kia đáp lại một câu, cứ thế mà thương nhau. Nàng còn dạy người ta lấy ống trúc mà thổi thành tiếng sáo, để khi lên nương một mình cũng có tiếng bạn đi cùng.
Tiếng hát, tiếng lượn, tiếng sáo dần dần phủ khắp các bản làng. Nhưng nàng vẫn thấy chưa đủ. Nàng muốn để lại cho người trần một món quà bền lâu, một thứ vẫn còn cất tiếng ngay cả khi nàng đã về trời.
Nàng đi tìm một quả bầu thật già, đem phơi cho khô cong, ruột rỗng, vỏ chắc. Nàng úp quả bầu ấy lại làm bầu đàn. Nàng chặt một đoạn gỗ dâu, gọt cho thẳng thớm, làm thành cần đàn cắm lên trên bầu. Còn dây đàn thì nàng làm bằng một thứ quý của riêng mình. Nàng rút một sợi tóc thơm trên mái đầu, rồi xe đi xe lại, xe ba xe bảy lần cho thật săn, thật bền, căng lên làm dây.
Cây đàn ấy là cây đàn tính đầu tiên trên đời.
Khi nàng đặt tay lên gảy thử, tiếng đàn cất lên nghe không giống bất cứ âm thanh nào trần gian từng có. Nó trong như nước suối đầu nguồn, mà ấm như lửa bếp giữa đêm đông. Nó ngân dài, luồn qua vách núi, trải khắp thung lũng. Nghe một lần là không sao quên được.
Rồi chuyện lạ xảy ra. Ở đâu có tiếng đàn tính, ở đó người ta buông hết mọi việc. Người đang cày bỏ trâu đứng giữa ruộng. Người đang dệt bỏ khung cửi. Người đang gánh nước đặt đôi thùng xuống bên đường. Ai nghe cũng ngẩn ngơ, chân cứ bước theo tiếng đàn, ngồi xuống mà nghe, quên cả nắng đã lên cao, quên cả bữa cơm chưa nấu.
Ngày qua ngày, nương rẫy bắt đầu bỏ hoang. Lúa không ai chăm. Củi không ai kiếm. Cả bản chỉ mê mải nghe đàn.
Trên trời, Pựt nhìn xuống, thấy hết. Pựt biết cây đàn của con gái mình đẹp quá, đẹp đến mức làm người ta quên mất phải sống thế nào. Một món quà mà khiến người nhận sinh ra lười nhác thì món quà ấy cần bớt đi đôi phần.
Thế là Pựt ra tay. Pựt cắt bớt những sợi dây trên cây đàn tính, cắt cho đến khi chỉ còn lại ba dây. Ba dây mà thôi.
Kỳ lạ thay, ba dây vẫn đủ. Tiếng đàn vẫn trong, vẫn ấm, vẫn ngân dài như cũ. Vẫn đủ để chở câu hát, chở điệu lượn, chở tất cả những gì nàng con gái thứ chín đã dạy. Chỉ khác một điều. Nghe đàn xong, người ta lại đứng dậy ra đồng, lại về bên khung cửi. Tiếng đàn thành ra người bạn đi cùng cuộc sống, chứ không còn cuốn người ta rời khỏi cuộc sống nữa.
Từ đó, cây đàn tính có đúng ba dây, và giữ đúng ba dây ấy cho tới tận hôm nay.
Với người Tày, cây đàn tính chưa bao giờ chỉ là một món đồ. Người ta tin nó là hóa thân của chính người con gái Pựt, người đã đem tiếng hát xuống cho trần gian. Tiếng đàn ấy đi cùng điệu hát Then, lối hát thiêng mà người Tày, người Nùng, người Thái gìn giữ qua bao đời. Năm hai nghìn mười chín, thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam được cả thế giới ghi nhận là di sản văn hóa của loài người.
Mà truyện này cũng chỉ là một trong nhiều cách kể. Người Tày vùng Cao Bằng còn kể một chuyện khác, người Thái lại kể một chuyện khác nữa, mỗi vùng một dị bản về nguồn gốc cây đàn thân thương này. Không có bản nào là bản duy nhất đúng. Chỉ có một điều chung. Ai cũng thương, cũng quý cây đàn ba dây ấy như quý tiếng nói của lòng mình.
Nên bây giờ, mỗi khi thấy một người hát Then ngồi xuống, ôm cây đàn tính vào lòng, cả nhà nhìn cho kỹ mà xem. Cái bầu đàn tròn như quả bầu khô. Cái cần đàn dài bằng gỗ dâu. Và ba sợi dây căng suốt chiều dài cần đàn, đúng ba dây. Rồi khi ngón tay người hát vừa chạm vào, tiếng đàn buông ra trong và ấm. Cả nhà sẽ hiểu vì sao người Tày kể rằng trong ba sợi dây bé nhỏ ấy còn ngân mãi giọng hát của nàng con gái thứ chín, người đã xuống trần chỉ để dạy cho con người biết hát.