Bảo tàng Lịch sử TP. Hồ Chí Minh
Tháng mười năm một nghìn chín trăm chín mươi tư, ở khu Xóm Cải, phường tám, quận năm, Thành phố Hồ Chí Minh, người ta đang khai quật và dời những ngôi mộ cổ để lấy đất xây dựng. Trong một ngôi mộ hợp chất lớn, lộ ra một chiếc quan tài nằm trong lớp quách gỗ dày. Bên trong là thi hài một người phụ nữ, khâm liệm bằng nhiều lớp áo vải, lụa và gấm, ngâm trong dung dịch ướp xác.
Thi hài ấy đã nằm dưới đất hơn một trăm năm, từ thời nhà Nguyễn. Và hôm nay, người phụ nữ ấy đang yên nghỉ tại Phòng mười lăm của Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhưng trước khi vào, hãy để mình kể về ngôi nhà đang chứa đựng tất cả.
Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh là bảo tàng đầu tiên ở Sài Gòn và toàn miền Nam Việt Nam. Thống đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse ký nghị định thành lập ngày hai mươi tám tháng mười một năm một nghìn chín trăm hai mươi bảy. Toà nhà được xây từ năm một nghìn chín trăm hai mươi sáu đến năm một nghìn chín trăm hai mươi tám, bởi kiến trúc sư người Pháp Auguste Delaval. Ngày một tháng một năm một nghìn chín trăm hai mươi chín, bảo tàng khánh thành. Ông Delaval sinh năm một nghìn tám trăm bảy mươi lăm, mất năm một nghìn chín trăm sáu mươi hai. Người kiến trúc sư đã đi xa từ lâu, nhưng toà nhà ông để lại cho Sài Gòn thì đến nay vẫn còn đứng đó.
Nhìn toà nhà, cả nhà sẽ thấy ngay phong cách khác với Nhà thờ Đức Bà hay Bưu điện Trung tâm. Đây là phong cách Đông Dương, tiếng Pháp gọi là Indochinois, kết hợp kết cấu hiện đại Pháp với mái cong, đầu đao và hoa văn Á Đông. Lối kiến trúc này đặc trưng cho các công trình công cộng Pháp ở Đông Dương cuối thập niên một nghìn chín trăm hai mươi.
Bộ sưu tập ban đầu năm một nghìn chín trăm hai mươi chín chỉ có hai nghìn tám trăm chín mươi ba hiện vật. Phần lớn đến từ bộ sưu tập của bác sĩ Pháp Victor Holbé, một nhà sưu tầm cổ vật. Đến nay, bảo tàng có hơn ba mươi nghìn hiện vật và mười hai Bảo vật quốc gia.
Điểm nhấn lớn nhất của bảo tàng là Phòng sáu, trưng bày văn hoá Champa. Nền văn hoá ấy trải dài từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ mười bảy. Cùng với văn hoá Phù Nam và Óc Eo, văn hoá Champa là một trong hai mảng trưng bày trọng tâm của bảo tàng.
Trong phòng có một pho tượng đồng: Tượng Phật Đồng Dương, thế kỷ thứ tám đến thứ chín sau Công nguyên. Đây là Bảo vật quốc gia, được đánh giá là một trong những tượng Phật cổ và đẹp nhất Đông Nam Á.
Pho tượng ấy đến từ rất xa Sài Gòn. Nó được tìm thấy ở làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, vào đầu thế kỷ hai mươi. Cũng trong những năm ấy, các nhà khảo cổ người Pháp của Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp đã khai quật nơi này trên quy mô lớn. Trong số họ có Henri Parmentier, chuyên gia về Champa, người còn nghiên cứu nhiều di tích Champa quan trọng khác như Mỹ Sơn và tháp Po Nagar.
Điều thú vị: phần lớn nghệ thuật Champa thờ các thần Hindu như Shiva, Vishnu, Brahma. Nhưng văn hoá Đồng Dương thế kỷ thứ tám đến thứ chín lại thờ Phật giáo Đại thừa. Cuối thế kỷ thứ chín, kinh đô Champa đặt tại Đồng Dương, và nơi đây từng là một trung tâm Phật giáo lớn của Đông Nam Á.
Trong mười hai Bảo vật quốc gia của bảo tàng còn có một pho tượng đồng Champa khác. Đó là tượng Bồ Tát Avalokitesvara, vị Bồ Tát mà người Việt quen gọi là Quán Thế Âm. Tượng chỉ cao năm mươi hai phân, có bốn tay, trên búi tóc có một vị Phật nhỏ ngồi thiền. Pho tượng có từ thế kỷ thứ mười, được tìm thấy năm một nghìn chín trăm hai mươi ba ở Đại Hữu, trên đất Quảng Bình. Trong điêu khắc Champa, tượng đồng vốn hiếm, nên pho tượng nhỏ này càng thêm quý.
Rồi đến Phòng bảy, nơi trưng bày văn hoá Óc Eo. Đây là câu chuyện của vương quốc Phù Nam xưa, một vương quốc cổ đại ở đồng bằng sông Cửu Long, phát triển từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ bảy. Vương quốc ấy giao thương với Ấn Độ, Trung Hoa, thậm chí cả La Mã. Ở di chỉ Óc Eo tại An Giang, người ta đã tìm thấy một hiện vật bằng vàng có từ thời một hoàng đế La Mã.
Những hiện vật Óc Eo ở đây giúp cả nhà hình dung một thương cảng sầm uất ở miền Tây Nam Bộ từ gần hai nghìn năm trước.
Và cuối cùng là Phòng mười lăm. Xác ướp Xóm Cải. Đây là thi hài thật của một người từng sống, nên mình bước vào đây thật khẽ, với tất cả lòng kính cẩn.
Người phụ nữ ấy là một nữ quý tộc triều Nguyễn, sống ở thế kỷ mười chín. Thân thế chưa được xác định chính xác. Nhưng kỹ thuật bảo quản thì rõ ràng: quan tài và lớp quách bọc ngoài phủ kín bằng sơn ta, bên trong đổ dung dịch ướp xác, thi hài khâm liệm bằng nhiều lớp áo vải, lụa và gấm. Nhờ kỹ thuật đó mà thi hài vẫn còn khá nguyên vẹn sau ngần ấy năm nằm dưới đất. Đó là lối an táng truyền thống của người Việt thời ấy, trong quan ngoài quách, đặt trong một ngôi mộ hợp chất xây rất chắc.
Bảo tàng nằm trong khuôn viên Thảo Cầm Viên Sài Gòn, giữa những hàng cây cổ thụ rợp bóng. Bước qua cánh cổng mái cong đầu đao, cả nhà đi từ vương quốc Phù Nam ngàn năm, qua những pho tượng Champa trầm mặc, đến người phụ nữ nằm yên hơn một trăm năm. Tất cả vẫn ở đó, lặng lẽ chờ cả nhà đến nghe câu chuyện của đất phương Nam.