Bưu điện Trung tâm Sài Gòn
Trên chiếc bàn gỗ dài trong sảnh Bưu điện Trung tâm Sài Gòn, từng có một lá thư viết dở nằm cạnh một cây kính lúp và hai cuốn từ điển. Một cuốn Anh Việt, một cuốn Pháp Việt. Người cầm bút ngồi trên chiếc ghế gỗ cũ, bên mặt bàn đã mòn, cẩn thận chọn từng chữ một.
Lá thư ấy sắp bắt đầu một chuyến đi xa. Nhưng trước khi lên đường, nó sẽ đi qua cả một toà nhà đã làm bưu điện hơn một trăm ba mươi năm. Và người viết ra nó cũng có một câu chuyện dài không kém.
Ông cụ ấy là cụ Dương Văn Ngộ, sinh năm một nghìn chín trăm ba mươi. Thuở nhỏ, cụ học tiếng Pháp ở trường Petrus Ký. Năm mười tám tuổi, cụ thi đỗ vào làm ở Bưu điện Sài Gòn. Trong những năm làm việc ở đây, cụ học thêm tiếng Anh ở Hội Việt Mỹ.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi, cụ về hưu. Nhưng cụ không rời toà nhà. Cụ được mời ở lại, tiếp tục ngồi trong sảnh viết thư thuê cho khách. Hồi ấy còn mấy người cùng làm nghề này, và cụ là người trẻ nhất trong số họ.
Lá thư trên bàn có thể mang bất cứ điều gì. Có những lá thư tình gửi qua biên giới. Có những lá thư giúp một người con tìm về cội nguồn. Có những lá thư giữa mẹ và con, mỗi người ở một phương. Cũng có rất nhiều giấy tờ công việc, cần dịch thật chính xác từng chữ.
Cụ dịch thư tiếng Việt sang tiếng Anh, tiếng Pháp, rồi dịch cả chiều ngược lại. Cụ viết đúng điều người ta nhờ, không thêm, không bớt, và giữ kín chuyện riêng của từng người. Có khi cụ chỉ giúp ghi một địa chỉ nước ngoài lên phong bì. Cụ bảo mỗi nước có một cách viết địa chỉ riêng, và nhìn vào cách viết ấy là thấy được văn hoá của họ.
Giờ thì lá thư đã viết xong. Nó rời chiếc bàn gỗ, và mình cùng ngẩng đầu nhìn lên.
Phía trên là một mái vòm cao, đỡ bởi những hàng cột sắt. Ánh nắng từ ô kính trên trần rơi xuống sảnh, còn những chiếc quạt trần thì quay giữa các hàng cột. Không gian vừa cao, vừa rộng, vừa thoáng, khiến người ta nhớ tới những nhà ga xe lửa châu Âu thời xưa.
Toà nhà này được người Pháp xây từ năm một nghìn tám trăm tám mươi sáu và khánh thành năm một nghìn tám trăm chín mươi mốt. Từ ngày ấy đến nay, nó chưa bao giờ thôi làm bưu điện. Trong số những công trình người Pháp để lại ở Việt Nam, hiếm có nơi nào giữ nguyên công việc của mình lâu đến thế.
Lá thư đi dọc sảnh, ngang qua hai tấm bản đồ cổ vẽ tay ở hai bên tường cao. Tấm thứ nhất mang tên Sài Gòn và vùng phụ cận, năm một nghìn tám trăm chín mươi hai. Đó là Sài Gòn khi toà nhà vừa khánh thành được một năm.
Tấm thứ hai là Đường dây điện tín miền Nam Việt Nam và Campuchia, năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu. Những đường kẻ trên đó là lối đi của những bức điện báo, từ Sài Gòn toả về khắp miền Nam và sang tận Campuchia. Hai tấm bản đồ đã ở đó rất lâu, như hai người bạn già lặng lẽ trông xuống dòng người qua lại bên dưới.
Trong sảnh còn có những buồng điện thoại bằng gỗ, nơi ngày xưa người ta bước vào để gọi những cuộc gọi đường dài. Phía trên quầy chính treo một bức chân dung lớn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn quanh các quầy, lúc nào cũng rộn tiếng nói cười, tiếng hỏi han.
Ai đã vẽ nên toà nhà này? Nhiều người vẫn kể rằng đó là Gustave Eiffel, người dựng nên tháp Eiffel ở Paris. Nhưng ông Eiffel không thiết kế Bưu điện Sài Gòn.
Hai cái tên gắn với bản vẽ là kiến trúc sư Auguste Henri Vildieu và Marie Alfred Foulhoux. Người thì kể ông Vildieu là tác giả, còn ông Foulhoux làm phụ tá. Người lại xem ông Foulhoux mới là người thiết kế chính. Có người đoán ông Eiffel góp tay vào phần khung sắt bên trong, nhưng đến nay vẫn chưa có giấy tờ nào chứng minh điều ấy.
Rồi lá thư ra tới cửa. Đứng ngoài nhìn lại, toà nhà khoác màu vàng, màu truyền thống của ngành bưu điện Pháp. Kiến trúc của nó mang dáng vẻ châu Âu, điểm thêm vài nét trang trí phương Đông. Trên mặt tiền là những ô chữ nhật ghi tên các nhà phát minh của ngành điện tín và ngành điện. Xen giữa là phù điêu những người đàn ông, đàn bà đội vòng nguyệt quế.
Và trên vòm cao nhất, ở chính giữa, là một chiếc đồng hồ lớn. Ngay cạnh đó là Nhà thờ Đức Bà. Hai công trình người Pháp dựng lên đứng bên nhau giữa lòng thành phố.
Cụ Ngộ có lần nói rằng công nghệ chạy nhanh hơn cả cái đồng hồ trước bưu điện. Thư điện tử ra đời, người nhờ viết thư thưa dần. Những lá thư tình dài trang trở nên hiếm hoi. Nhiều hôm, khách chỉ nhờ cụ viết lên tấm bưu thiếp vài dòng thương nhớ.
Vậy mà người ta vẫn tìm đến chiếc bàn gỗ ấy. Mỗi ngày cụ đạp xe đến bưu điện. Du khách từ nhiều nước ghé lại trò chuyện, xin chụp chung một tấm ảnh. Có lúc cụ còn dẫn khách đi một vòng quanh toà nhà, kể cho họ nghe về văn hoá Việt Nam. Những tờ báo ở Canada, ở Đức cũng từng tìm đến để viết về cụ.
Năm hai nghìn lẻ chín, cụ được ghi nhận là người viết thư thuê lâu nhất Việt Nam. Bà giám đốc bưu điện thành phố từng nói một câu rất giản dị: bác Ngộ là một phần của bưu điện. Cụ mất năm hai nghìn hai mươi ba.
Còn lá thư thì đã lên đường. Nó qua cánh cửa dưới chiếc đồng hồ lớn, rời khỏi toà nhà màu vàng, đi về một nơi xa có người đang chờ. Thành phố đã đổi tên, người viết thư năm nào đã đi xa, nhưng toà nhà vẫn ở đó.
Trong sảnh, ánh nắng vẫn rơi qua ô kính trên trần. Hai tấm bản đồ vẫn nằm trên tường cao. Và mỗi sáng, cánh cửa dưới chiếc đồng hồ lại mở ra, để những lá thư mới bắt đầu chuyến đi của mình.