Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam
Đứng trước Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam ở phường Phan Đình Phùng, Thái Nguyên, cả nhà nhìn thấy một tòa nhà đã đứng ở đây từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi. Lúc đó, nó mang tên Bảo tàng Việt Bắc, thuộc Khu Tự trị Việt Bắc. Sau khi Khu Tự trị giải thể năm một nghìn chín trăm bảy mươi sáu, bảo tàng chuyển về Bộ Văn hóa quản lý. Sứ mệnh của nơi này vẫn vậy: nghiên cứu, bảo quản và kể chuyện văn hóa các dân tộc Việt Nam.
Kể chuyện về năm mươi bốn dân tộc, đó là nhiệm vụ không nhỏ.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết khuôn viên bảo tàng rộng gần bốn mươi nghìn mét vuông. Bên trong có năm phòng trưng bày trong nhà, khu ngoài trời và kho cơ sở lưu giữ hàng chục nghìn tài liệu, hiện vật gốc. Năm một nghìn chín trăm chín mươi sáu, công trình nhà bảo tàng được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật kiến trúc Việt Nam đợt đầu tiên. Đó không phải giải thưởng nhỏ.
Tuyến tham quan trong nhà đi qua năm phòng, được tổ chức theo các nhóm văn hóa và ngôn ngữ. Phòng đầu tiên mở đầu, khái quát đặc trưng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Sau đó là phòng nhóm Việt Mường, với các dân tộc Việt, Mường, Thổ, Chứt. Tiếp theo là phòng nhóm Tày Thái, với Tày, Nùng, Thái, Lào, Lự, Sán Chay, Bố Y. Sang phòng nhóm Mông Dao, nơi các dân tộc H'Mông, Dao, Pà Thẻn, La Chí và nhiều nhóm khác hiện diện. Rồi phòng nhóm Môn Khmer, với hơn hai mươi dân tộc, từ Khơ Mú, Kháng, Ơ Đu ở miền núi phía Bắc đến Khmer, Ba Na, Xơ Đăng, Ê Đê, M'Nông ở Tây Nguyên và Nam Bộ. Cuối cùng là phòng các nhóm Hán Hoa, Tạng Miến và Mã Lai Đa Đảo, với các dân tộc từ Hoa, Ngái, Sán Dìu đến Gia Rai, Chăm, Ra Glai, Chu Ru.
Năm nhóm ngôn ngữ. Năm mươi bốn dân tộc. Và mỗi dân tộc trong số đó có ngôn ngữ, trang phục, kiến trúc, nghi lễ, âm nhạc, ẩm thực và vũ trụ quan riêng.
Điều thú vị là khi bước ra sân sau, cả nhà sẽ gặp khu trưng bày ngoài trời. Nơi đây được chia thành sáu vùng văn hóa, mỗi vùng có cảnh quan đặc trưng và một ngôi nhà cụ thể làm điểm nhấn. Từ nhà sàn Tây Bắc đến nhà dài Tây Nguyên, từ nhà trệt của người đồng bằng đến kiến trúc đặc trưng của người miền Trung. Đây là phần dễ gần nhất với trẻ nhỏ, vì có thể nhìn, chạm vào không gian kiến trúc, hình dung cách người ta sống trong những ngôi nhà khác nhau.
Và trong khuôn viên bảo tàng còn ẩn một lớp lịch sử nữa. Bộ Văn hóa ghi nhận hai công trình trong khuôn viên là Dinh Công Sứ Pháp và Trại lính khố xanh. Cả hai gắn với cuộc khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên năm một nghìn chín trăm mười bảy do Đội Cấn chỉ huy. Tên con đường dẫn vào bảo tàng, đường Đội Cấn, chính là tên của người chỉ huy cuộc khởi nghĩa đó. Khuôn viên bảo tàng vì vậy không chỉ là không gian trưng bày văn hóa, mà còn là địa điểm lịch sử.
Bảo tàng cũng không dừng lại ở tủ kính và biển chú thích. Từ năm hai nghìn không trăm mười tám, nơi đây mở thêm không gian tham quan ảo, với năm phòng trưng bày dạng ba chiều. Rồi từ cuối năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, một ứng dụng thuyết minh tự động ra đời, mang theo chín mươi chín câu chuyện cho chín mươi chín tổ hợp trưng bày. Chỉ cần một chiếc điện thoại, cả nhà có thể nghe từng hiện vật tự kể về mình.
Và đó chính là điều đọng lại khi ta bước ra khỏi cánh cổng. Dưới một mái nhà, năm mươi bốn dân tộc cùng sống, cùng dệt vải, cùng dựng nhà, cùng hát những bài ca của riêng mình. Mỗi hiện vật trong tủ kính là một phần câu chuyện mà một cộng đồng đã tin tưởng gửi lại. Đứng giữa khu nhà sàn, nhà dài, nhà trệt phơi mình trong nắng Thái Nguyên, cả nhà sẽ thấy như đi qua cả một dải đất nước. Từ rẻo cao Tây Bắc đến đại ngàn Tây Nguyên, chỉ trong một buổi chiều.