Chuyen.AIPlaylist
Nghệ An

Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh

0:000:00

Sáng ngày một tháng năm năm một nghìn chín trăm ba mươi, trên một cột đèn ở Ngã ba Bến Thủy, một lá cờ đỏ búa liềm bay trong gió sông Lam. Bên dưới, con đường chật kín người. Lá cờ ấy sẽ còn ở trên cột đèn suốt tám tiếng đồng hồ.

Ngã ba Bến Thủy nằm bên tả ngạn sông Lam, dưới chân núi Quyết, cách trung tâm Vinh chừng năm cây số về phía đông nam. Từ rạng sáng hôm ấy, khoảng một nghìn hai trăm nông dân các làng Yên Dũng, Lộc Đa, Đức Thịnh và nhiều làng lân cận đã đi vào Vinh, hàng ngũ chỉnh tề, giương cờ, chăng biểu ngữ. Họ đòi tăng lương cho thợ, giảm sưu thuế cho dân, và một ngày làm việc chỉ tám giờ. Người trực tiếp lãnh đạo cuộc biểu tình là ông Lê Mao, Bí thư Tỉnh bộ Vinh, Bến Thủy.

Viên tri phủ Hưng Nguyên cho lính ra chặn đoàn người ở Ngã ba Quán Lau. Đoàn người siết chặt hàng ngũ, đi tiếp xuống Bến Thủy. Ở các nhà máy, lính cầm súng gắn lưỡi lê đứng gác, không cho công nhân bước ra. Nhưng công nhân vẫn bỏ việc, tràn ra đường. Bà con bên bờ Hà Tĩnh sang nhập đoàn. Đi đầu là anh Trần Cảnh Bình, một người tự vệ làng Lộc Đa, tay vẫy cờ, gọi mọi người tiến lên.

Rồi viên công sứ Pháp chở mười xe ô tô lính tới, chặn đoàn người ngay trước cổng nhà máy Diêm. Cảnh binh nổ súng. Anh Trần Cảnh Bình ngã xuống, rồi thêm sáu người nữa. Mười tám người bị thương, chín mươi bảy người bị bắt đi. Ngày hôm ấy trở thành mốc mở đầu cho cả một cao trào mà người đời sau gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Năm một nghìn chín trăm ba mươi, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa được thành lập. Nghệ An và Hà Tĩnh là vùng đất có truyền thống yêu nước, nhưng cũng là nơi đói kém, thuế khóa nặng nề. Sau buổi sáng ở Bến Thủy, người hai tỉnh lần lượt xuống đường, với băng rôn, với tiếng trống, và phong trào kéo sang năm một nghìn chín trăm ba mươi mốt. Ở một số nơi, bộ máy cai trị thực dân tê liệt, nông dân tự lập ra ủy ban để điều hành làng xã. Những ủy ban tự quản ấy được gọi là Xô Viết.

Cao điểm là sáng ngày mười hai tháng chín năm một nghìn chín trăm ba mươi. Khoảng tám nghìn nông dân của ba tổng Phù Long, Thông Lạng và Nam Kim kéo về ga Yên Xuân, tay cầm gậy gộc, giáo mác, dây thừng, giương cờ búa liềm. Hành khách trên tàu cũng xuống đi cùng. Chị Nguyễn Thị Quỳnh Nga, người ta quen gọi là chị Phia, đứng lên nói trước đám đông, tố cáo thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn. Lính nổ súng đe dọa, đoàn người vẫn giữ hàng, tiến về phủ Hưng Nguyên. Khi đoàn tới Thái Lão, chính quyền thực dân cho máy bay bay đến, bắn và thả bom xuống đoàn người. Hai trăm mười bảy người đã mất, một trăm hai mươi lăm người bị thương.

Cuối cùng, thực dân Pháp đàn áp dữ dội và phong trào tan vỡ. Nhưng ký ức về nó thì không mất.

Ngày mười lăm tháng một năm một nghìn chín trăm sáu mươi, người ta quyết định xây một bảo tàng để giữ ký ức ấy. Ngày mười hai tháng chín năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba, đúng ba mươi ba năm sau buổi sáng ở Thái Lão, Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh lần đầu mở cửa đón người. Bảo tàng nằm ở số bảy và số mười đường Đào Tấn, nay thuộc phường Thành Vinh, Nghệ An, trong một khuôn viên rộng hơn mười lăm nghìn mét vuông.

Ngày ba tháng hai năm một nghìn chín trăm sáu mươi tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lời đề tựa cho bảo tàng. Trong lời đề tựa ấy, Người căn dặn cán bộ, đảng viên và đồng bào Nghệ An, Hà Tĩnh đoàn kết, thi đua xây dựng hai tỉnh thành những địa phương gương mẫu, xứng đáng với quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Bên trong, các phòng trưng bày nối nhau như một dòng chảy thời gian. Phòng đầu tiên đặt ở nơi trang trọng nhất một chiếc trống từng giục giã người xứ Nghệ đứng lên. Phòng kế tiếp có gương mặt những người lãnh đạo như Nguyễn Hằng Chí, Trần Khắc Lập, Đặng Thị Quỳnh Anh, Đặng Thúc Hứa, cùng dấu tích hai phong trào đi trước là Đông Du và Cần Vương.

Phòng số bốn có một sa bàn mô phỏng cả cuộc đấu tranh, từng làng xã Nghệ An, Hà Tĩnh hiện ra dưới mắt. Phòng số tám có mô hình thu nhỏ của Nhà lao Vinh, nơi từng giam giữ những người của phong trào Cần Vương và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cùng mô hình Thành cổ Vinh. Bảo tàng đã sưu tầm và lưu giữ hơn mười sáu nghìn tài liệu, hiện vật.

Bước ra khuôn viên, cả nhà sẽ gặp hai công trình tưởng niệm. Nhà tưởng niệm các liệt sĩ Xô Viết Nghệ Tĩnh có năm gian, mái ngói chồng diêm. Bên trong có tám tấm bia đá khắc tên gần hai nghìn liệt sĩ, trong đó có người Nghệ An, có người Hà Tĩnh.

Công trình thứ hai là Đài tưởng niệm các chiến sĩ yêu nước và cách mạng bị giam cầm tại Nhà lao Vinh, dựng trên một phần nền nhà lao xưa. Đài khởi công ngày ba mươi tháng sáu năm hai nghìn lẻ bốn, để kịp dịp kỷ niệm bảy mươi lăm năm Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đài chính cao chín mét rưỡi, ba mặt có phù điêu bằng đồng, phía sau thêm năm bức phù điêu kể các chương đấu tranh của người từng bị giam ở đây.

Năm hai nghìn hai mươi lăm, bảo tàng hợp nhất với Bảo tàng Nghệ An, mang tên Bảo tàng Nghệ An, Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Trên tám tấm bia đá, mỗi cái tên là một gia đình, một làng quê, và đọc chậm từng tên một thì nghe như cả một vùng đất đang điểm danh. Xuống phía sông Lam, ở Ngã ba Bến Thủy, gió vẫn thổi như sáng hôm ấy, khi một lá cờ đỏ đứng trên cột đèn suốt tám tiếng đồng hồ.

Câu chuyện gần đây