Chùa Đại Tuệ
Có những điểm tham quan ấn tượng vì kiến trúc to lớn. Có những điểm ấn tượng vì cảnh quan. Chùa Đại Tuệ trên núi Đại Huệ thuộc cả hai loại đó, và còn thêm một lớp nữa: câu chuyện về một ngôi chùa trên núi nhìn xuống cả một vùng sông nước mênh mông.
Cả nhà đang đứng trước hành trình lên chùa Đại Tuệ. Địa chỉ hành chính hiện nay là xã Đại Huệ, tỉnh Nghệ An. Nhiều bản đồ và tài liệu cũ vẫn ghi xã Nam Anh, huyện Nam Đàn, vì địa danh hành chính vừa thay đổi. Chùa nằm trên động Thăng Thiên thuộc dãy núi Đại Huệ, ở độ cao khoảng bốn trăm năm mươi mét so với mực nước biển.
Bốn trăm năm mươi mét không phải quá cao, nhưng đủ để khi lên đến nơi, cả nhà có thể nhìn thấy sông Lam, vùng Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương và xa hơn là hướng biển. Nếu thời tiết quang, tầm nhìn rất rộng. Đây là lý do từ rất lâu đã có người dừng lại ở ngọn núi này.
Trong bộ tư liệu Đại Nam nhất thống chí, cổ điển về địa lý cổ Việt Nam, có đoạn ghi: "Chùa Đại Tuệ, ở núi Đại Huệ, huyện Nam Đường, cũng là thắng cảnh." Đây là thông tin trong nguồn tư liệu học thuật, cho biết ngôi chùa đã được ghi nhận như một danh thắng từ thời xưa. Chùa còn được gọi bằng nhiều tên khác: chùa Đại Huệ, chùa Cao. Tên "Đại Tuệ" gắn với Phật Bà Đại Tuệ, đối tượng thờ chính.
Về nguồn gốc, tư liệu trong kỷ yếu Văn hóa Phật giáo xứ Nghệ ghi rằng tương truyền chùa có từ thời Mai Hắc Đế và được Hồ Quý Ly xây lại. Đây là lớp truyền thuyết tín ngưỡng, không phải sử kiện đã chứng minh bằng tư liệu độc lập.
Điều chắc chắn hơn là câu chuyện phục dựng hiện đại. Tỉnh Nghệ An tổ chức hội thảo khoa học về chùa Đại Tuệ năm hai nghìn không trăm lẻ chín, sau đó khởi công xây dựng chính điện ngày mười một tháng ba năm hai nghìn không trăm mười hai. Quy hoạch phục dựng có hơn hai mươi hai héc ta, hai mươi hạng mục, trong đó bốn hạng mục chính là chùa Trình, chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Đây là mô hình bốn cụm chùa phân tầng từ thấp lên cao theo địa hình núi.
Ngày mười chín tháng hai năm hai nghìn không trăm mười sáu, Hội Kỷ lục gia Việt Nam xác nhận bốn kỷ lục tại chùa Đại Tuệ. Thứ nhất: ngôi chùa trên núi có hồ nhân tạo lớn nhất. Thứ hai: ngôi chùa có hệ thống tượng hồng ngọc nhiều nhất. Thứ ba: ngôi chùa có hệ thống tượng bằng gỗ dâu nguyên khối nhiều nhất. Thứ tư: ngôi chùa có hệ thống câu đối bằng thư pháp thuần Việt nhiều nhất Việt Nam. Đây là các kỷ lục văn hóa kiến trúc được xác nhận tại thời điểm năm hai nghìn không trăm mười sáu. Giá trị của chúng là văn hóa và nghệ thuật, không phải giá trị tôn giáo tuyệt đối.
Trong tư liệu về chùa, còn nhắc đến nhiều chi tiết cảnh quan như Thạch Ngai, đá Mõ, đá Chuông, giếng đá, động Thăng Thiên, khe Trúc, khe Mai, Liên Trì hay Hồ Sen. Đây là những tên gọi dân gian trong không gian chùa, mỗi tên mang theo một dáng núi, một nét đặc trưng của vùng đất này.
Mùa xuân là thời điểm đông khách nhất. Hội Xuân trên chùa mang đặc trưng riêng của vùng đất xứ Nghệ: khai bút đầu năm, võ thuật dân tộc, tranh cát, ví giặm, thi pháp và pháp hội hoa đăng. Dịp Tết Nguyên đán chùa đón hàng chục nghìn lượt khách từ khắp nơi về đây cầu trí tuệ và hướng thiện.
Thông điệp của chùa Đại Tuệ giản dị mà sâu: trí tuệ, đạo hiếu, hướng thiện. Đứng trên độ cao bốn trăm năm mươi mét nhìn xuống sông Lam uốn lượn phía xa, giữa tiếng chuông ngân và khói hương nhẹ bay, cả nhà sẽ hiểu vì sao người xứ Nghệ đã giữ gìn ngọn núi này suốt bao đời.
Cả nhà đã sẵn sàng bước lên chưa?