Bí mật con tằm và tấm lụa mỏng như khói
Bốn mươi chín gam.
Một quả trứng gà đặt trong lòng bàn tay còn nặng hơn thế. Bốn mươi chín gam là nhẹ đến mức nếu nhắm mắt lại, người ta gần như không biết trên tay mình đang có gì.
Bây giờ mới tới phần khó tin. Bốn mươi chín gam ấy không phải một mẩu giấy, cũng không phải một chiếc lông chim. Đó là cân nặng của cả một tấm áo.
Một tấm áo thật, có thân, có cổ, có hai ống tay dài. Trải phẳng ra, riêng phần vải của nó đã rộng hai phẩy sáu mét vuông. Thân áo dài một trăm hai mươi tám xăng ti mét. Đo từ đầu ống tay bên này sang đầu ống tay bên kia được một trăm chín mươi xăng ti mét. Ngần ấy vải, mà cả chiếc áo gấp lại thì lọt gọn trong một bao diêm.
Còn nếu bỏ hai ống tay và cái cổ áo ra, phần thân còn lại chỉ nặng hai mươi lăm gam.
Chiếc áo ấy không nằm trong tủ kính của một nhà may hiện đại nào. Nó được đưa lên từ một ngôi mộ cổ ở Mã Vương Đôi, thuộc thành phố Trường Sa, vùng Hồ Nam. Người nằm trong mộ là một bà quý tộc thời Hán, đã nằm đó hơn hai nghìn năm. Suốt ngần ấy thời gian, tấm áo vẫn nguyên. Người ta gọi nó là chiếc áo mỏng nhất thế giới, mỏng như cánh con ve, nhẹ như một làn khói.
Vậy thì câu hỏi hay nhất ở đây không phải là ai đã may nó. Sợi gì mà nhẹ được đến thế?
Sợi ấy đi ra từ miệng một con sâu.
Con sâu ấy tên là con tằm, thân mềm, trắng ngà, to chừng ngón tay út. Nó không ăn cỏ, không ăn hoa, không ăn quả. Nó chỉ ăn đúng một thứ trên đời, là lá dâu. Từ lúc nở ra tới lúc thôi ăn, con tằm sống chừng hai mươi đến ba mươi ngày, tùy trời nóng hay lạnh. Trong quãng ngắn ngủi ấy nó lột xác năm lần, mỗi chặng chỉ hai ba ngày, rồi ăn, rồi lại lột.
Đến ngày cuối cùng, con tằm ngừng ăn. Nó ngóc đầu lên, lắc qua lắc lại thật đều, và bắt đầu nhả ra một sợi tơ. Nó cứ quay mình như thế suốt ba đến tám ngày, cuốn sợi tơ quanh chính nó, cho tới khi biến mất hẳn vào bên trong một cái kén nhỏ bằng đầu ngón tay cái.
Cái kén ấy chỉ là một sợi tơ duy nhất, cuộn lại. Không nối, không đứt đoạn. Người ta ước chừng gỡ hết ra thì sợi ấy dài tới hàng trăm mét.
Chỉ có điều nó mảnh quá. Mảnh tới mức một sợi thôi thì chẳng làm được gì. Người thợ ươm tơ phải ngâm kén trong nước nóng cho lớp keo bọc ngoài mềm ra, dò tìm cho được cái đầu sợi, rồi chập chừng mười sợi từ mười cái kén lại với nhau. Chập đủ mười sợi mới thành một sợi chỉ đủ chắc để mắc lên khung dệt.
Tới đây thì con số bốn mươi chín gam bắt đầu lớn dần lên trong đầu cả nhà. Một tấm áo là mấy trăm cái kén. Mấy trăm cái kén là mấy trăm con tằm. Mà mấy trăm con tằm thì ăn hết cả một vườn lá dâu.
Cho nên chuyện thú vị nhất trong nghề này lại không nằm ở khung dệt. Nó nằm ngoài bờ ao.
Ở vùng Hồ Châu thuộc Chiết Giang, từ hơn hai nghìn năm trăm năm trước, người ta đã nghĩ ra một cách nuôi lá dâu mà bây giờ nghe vẫn thấy khéo. Họ đào ao lấy nước. Đất đào lên đắp thành bờ cao chạy quanh. Trên bờ ấy trồng dâu.
Lá dâu hái xuống cho tằm ăn. Tằm ăn no rồi thải ra, và phân tằm đổ xuống ao thành mồi cho cá. Dưới ao nuôi bốn loại cá khác nhau, mỗi loại quen một tầng nước riêng, con kiếm ăn tầng mặt, con lửng lơ ở giữa, con quen tầng nước sát đáy, nên chẳng loại nào tranh phần của loại nào. Rồi tới cuối mùa, người ta vét bùn dưới đáy ao lên, đắp trở lại lên bờ dâu. Bùn ấy nuôi gốc dâu. Gốc dâu lại bật lá cho tằm.
Vòng tròn khép kín như vậy đó. Lá nuôi tằm, tằm nuôi cá, bùn ao nuôi lá. Không có thứ gì trong cái ao ấy bị coi là rác. Cái bờ đất còn giữ nước lại mỗi mùa mưa, nên làng cũng bớt ngập. Vùng ao dâu ấy nay được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc xếp vào hàng di sản nông nghiệp của cả thế giới.
Năm hai nghìn lẻ chín, cả cái nghề dài dòng ấy được ghi vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Không phải riêng tấm lụa đẹp, mà là toàn bộ chuỗi việc từ trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, se chỉ, rồi mới tới dệt. Nghề vẫn còn sống ở Chiết Giang, Giang Tô, và Thành Đô thuộc vùng Tứ Xuyên. Cứ tháng tư, những người phụ nữ làm nghề tằm lại cài hoa nhiều màu lên tóc và mở hội. Người xưa vẫn kể rằng người đầu tiên tìm ra sợi tơ là bà Luy Tổ, tuy đó là chuyện truyền miệng chứ không phải chuyện sử chép.
Nghề còn già hơn cả những gì người ta từng đoán. Ở vùng Hà Nam bên Trung Quốc, các nhà khảo cổ tìm được những mảnh lụa hơn năm nghìn năm tuổi. Cùng khu vực ấy còn có một con tằm nhỏ khắc bằng xương, dài sáu phẩy bốn xăng ti mét, tạc đúng cái dáng cong mình đang nhả tơ. Nghĩa là từ năm nghìn năm trước, đã có người ngồi nhìn con tằm đủ lâu, đủ thương, để tạc lại nó.
Lụa thì nhẹ, gọn và quý, nên suốt bao nhiêu đời nó là món hàng người ta mang từ chợ vùng này sang chợ vùng khác, đổi lấy những thứ quê mình không có.
Còn ở nhà mình thì sao. Nong tằm chẳng phải chuyện lạ với người Việt chút nào. Bao nhiêu thế hệ trẻ con lớn lên bên những cái nong tre tròn đặt ở gian nhà ngoài, ngày ngày rải lá dâu cho tằm. Bà và các cô lo cho tằm ăn rồi ngồi ươm tơ, các chú ra vườn hái lá và dọn phân tằm đem bón cho cây. Nghề ấy vất vả tới mức ông bà mình có hẳn một câu để nói về nó, là nuôi tằm ăn cơm đứng. Bận đến nỗi bữa cơm cũng phải đứng mà ăn cho nhanh, rồi quay lại với cái nong.
Hai bên có chung một thói quen rất cũ, và không bên nào bắt chước bên nào cả. Người vùng này, từ rất lâu rồi, đều nhìn ra cùng một điều. Trồng một loài cây lá to, nuôi một con sâu bé, rồi kéo từ nó ra một sợi.
Hôm nay Lâm Đồng là vùng dâu tằm lớn nhất nước, với khoảng mười bảy nghìn hộ gia đình sống bằng nghề này, và tơ lụa Bảo Lộc đã được mang đi giới thiệu tận Nhật Bản, Ấn Độ, Pháp, Ý. Còn ở Vạn Phúc bên Hà Đông, khung dệt đã chạy hơn một nghìn năm và tới giờ vẫn chưa nghỉ.
Đứng giữa Vạn Phúc, tiếng khung dệt nghe đều đều, lách cách, như tiếng mưa nhỏ trên mái. Nếu có ai cắt xuống một khúc lụa vừa dệt xong và đặt lên tay cả nhà, khúc lụa ấy sẽ trôi qua kẽ tay như nước, mềm và gần như không có sức nặng nào.
Bốn mươi chín gam. Nhẹ hơn một quả trứng gà. Và đứng sau con số bé xíu ấy là một cái ao, một bờ dâu xanh, một đàn cá dưới đáy nước, và một con sâu nhỏ đã lặng lẽ ăn lá suốt gần một tháng trời để đổi lấy chừng ấy.