Ông Táo về trời, hai gian bếp một buổi sáng
Trong gian bếp thứ nhất có một con cá chép đỏ đang bơi vòng quanh trong chiếc chậu đặt cạnh cửa. Nước sóng sánh theo. Cái đuôi đỏ quệt vào thành chậu, quay lại, rồi quệt tiếp, như thể nó đang sốt ruột chờ ai.
Trong gian bếp thứ hai, xa lắm, có hai bàn tay đang với lên mảng tường ám khói phía trên bếp lò. Trên đó dán một bức tranh giấy đã cũ, mép quăn, màu phai đi vì hơi nóng suốt một năm. Hai bàn tay gỡ bức tranh xuống thật nhẹ, sợ rách.
Hai gian bếp ấy chẳng quen biết gì nhau. Nhưng hôm đó là cùng một buổi sáng: sáng hai mươi ba tháng Chạp.
Và cả hai nhà đều đang tiễn cùng một người khách đi xa.
Người khách ấy không ở phòng khách, không ở trên gác. Ông ở ngay trong bếp, chỗ nóng nhất, ám khói nhất, chỗ mà cả năm không ai nghĩ là có ai đang ngồi. Người Việt mình gọi ông là ông Táo, hay ông Công ông Táo. Bên kia người ta gọi là Táo Quân, Táo Công, thần Bếp. Và mỗi năm một lần, đúng vào những ngày cuối tháng Chạp, ông phải rời cái bếp của mình để lên chầu Ngọc Hoàng, kể lại một năm vừa rồi nhà này sống ra sao.
Nghe tới đây thì hai nhà cùng gặp đúng một bài toán. Bài toán có hai câu hỏi. Câu thứ nhất: ông đi bằng gì. Câu thứ hai, khó hơn nhiều: lên tới nơi rồi ông sẽ nói gì.
Người Việt trả lời câu thứ nhất bằng một con cá.
Không phải cá giấy, không phải cá vẽ, mà cá thật, cá chép sống, vảy đỏ, mang còn phập phồng. Chọn con nào bơi khỏe nhất chợ, mua về thả vào chậu nước chờ tới giờ. Cúng xong thì mang ngay ra ao, ra hồ, ra sông, chỗ nào nước sạch thì thả. Có nhà thả một con, có nhà thả một đôi, có nhà thả đủ ba con cho ba vị Táo, vì bộ mũ Táo quân của người Việt xưa nay vẫn là hai mũ ông và một mũ bà. Người Việt mình có sự tích riêng về ba vị ấy, tương truyền từ đời này sang đời khác, nhưng đó là một câu chuyện khác.
Nghiêng chậu xuống mặt nước, con cá búng một cái là mất hút. Trong đầu đứa trẻ đứng xem, con cá vừa lặn xuống đáy ao ấy đang đi lên trời.
Bên gian bếp thứ hai, câu trả lời hoàn toàn khác.
Bức tranh giấy vừa gỡ khỏi tường được đặt xuống, và bên cạnh nó người ta để sẵn một con ngựa giấy với một nắm cỏ khô. Thêm bát nước sạch, thêm ít đậu. Đó là nước uống và thức ăn cho ngựa, phần ăn dọc đường của một chuyến đi xa. Rồi cả bức tranh, cả con ngựa giấy, cả nắm cỏ, tất cả được châm lửa đốt.
Khói cuộn lên, mỏng và xanh, luồn qua mái bếp rồi tan vào trời lạnh. Ông đi rồi.
Một bên thả xuống nước, một bên hóa thành khói bay lên. Cùng một chuyến đi, hai phương tiện ngược nhau hoàn toàn, và cả hai nhà đều thấy cách của mình là hợp lý nhất trần đời.
Còn câu hỏi thứ hai thì đây mới là chỗ vui.
Trước khi đốt tranh, người ta bày lên bàn cúng đặt ngay trong bếp một thứ không thể thiếu: kẹo nấu từ mạch nha. Có nơi kéo thành từng miếng tròn, có nơi dẹt, giòn tan mà dính răng kinh khủng. Rồi người ta lấy kẹo ấy phết lên đúng chỗ miệng của ông trong bức tranh.
Ý nghĩ đằng sau việc đó vừa ngây thơ vừa buồn cười. Có người bảo phết kẹo cho miệng ông dính lại, để ông đừng kịp kể chuyện xấu. Có người bảo không phải, phết kẹo cho miệng ông ngọt, thì lên tới thiên đình lời ông nói ra cũng ngọt theo. Kèm với đĩa kẹo là một lời chúc quen thuộc đến mức trẻ con cũng thuộc, Hán Việt đọc lên nghe rất trịnh trọng: thượng thiên ngôn hảo sự, hạ giới giáng cát tường. Dịch ra thì giản dị vô cùng. Lên trên thì nói chuyện hay giùm, xuống dưới thì mang điều lành về cho nhà con.
Bên gian bếp có con cá chép, cách làm khác hẳn, mà bụng dạ thì y hệt. Người Việt không phết kẹo, người Việt bày mâm. Một mâm cỗ tươm tất, có khi là con gà luộc vàng ươm, đặt trước bàn thờ ông Táo. Và một bộ mũ mới, hai mũ ông một mũ bà, đủ cho ba vị. Ai lại để người nhà mình lên chầu trời trong bộ đồ cũ.
Cho nên, gạt hết mọi khác nhau đi, cả nhà sẽ thấy hai gian bếp cách nhau bao nhiêu núi sông ấy đang cùng làm một việc rất người: đối xử thật tử tế với ông vào đúng cái ngày ông sắp đi kể chuyện về mình.
Và trước đó nữa, cả hai nhà đều phải làm một việc chẳng ai thích. Dọn bếp. Bên này lau bồ hóng, cọ nồi, rửa lại từng cái bát. Bên kia gọi hẳn ngày ấy là tiểu niên, cái Tết nhỏ đi trước cái Tết lớn, và cũng là ngày quét dọn to nhất trong năm, quét trần, phủi bụi, giặt giũ hết một lượt. Ở phía bắc, ngày tiễn ông đúng là hai mươi ba tháng Chạp. Có những vùng phía nam thì để sang hai mươi tư. Mỗi vùng một nếp, chẳng ai bắt ai theo mình.
Cái tục ấy già hơn cả hai gian bếp trong câu chuyện này. Người ta cho rằng nó đi ra từ một điều xa xưa hơn nhiều, từ lòng kính trọng mà con người thời rất cổ dành cho ngọn lửa nấu chín thức ăn cho cả nhà. Nhiều dân tộc trên thế giới từng có tục thờ Thần Lửa như vậy. Hai xứ láng giềng cùng giữ lại cái nếp cũ ấy, rồi mỗi bên thêm vào một chút của mình, một bên con cá đỏ, một bên tờ tranh giấy, và không bên nào phải giống bên nào mới là đúng.
Ông đi rồi thì bếp trống mấy hôm. Đến đêm Giao thừa ông mới về. Bên gian bếp thứ hai, đúng đêm ấy người ta mới dán lên tường một bức tranh mới, màu còn tươi rói, để ông có chỗ ngồi cho năm sau. Bên gian bếp thứ nhất, ông về lặng lẽ hơn, đúng lúc nồi bánh vừa vớt và cả nhà đang thức chờ sang năm mới.
Nhưng thứ đọng lại lâu nhất trong đầu một đứa trẻ nghe chuyện này lại chẳng phải con cá, cũng chẳng phải bức tranh. Mà là cái ý nghĩ này: suốt cả một năm dài vừa qua, trong gian bếp nhà mình, có một người vẫn ngồi đó, lặng lẽ nhìn cả nhà sống. Nhìn ai đi học về đói bụng bốc trộm miếng cơm cháy. Nhìn ai lén cho con mèo hàng xóm ăn. Nhìn những bữa cơm đông đủ và cả những bữa cơm chỉ có hai người ngồi đợi.
Rồi tới cuối năm, người ấy đi kể lại. Và người trong nhà, ở cả hai gian bếp, đều cuống quýt lo cho ông một chuyến đi thật êm và một cái miệng thật ngọt.
Con cá chép đỏ quẫy một cái rồi lặn xuống làn nước xanh. Sợi khói mỏng từ tờ giấy cháy luồn qua mái bếp rồi cao dần lên. Nhìn thì trái ngược hẳn nhau, một đằng chìm, một đằng bay. Vậy mà sáng hôm ấy, cả hai đều đang đi về cùng một hướng.