Ngày Tam Quốc và Tây Du Ký đến với người Việt
Trời vừa tắt nắng thì cái sân gạch đầu xóm đã có người tới ngồi.
Đầu tiên là mấy đứa nhỏ. Chúng lôi chiếu ra trải, giành nhau chỗ sát cây cột, đứa nào tới sau thì phải ngồi vòng ngoài. Rồi tới một bà cụ nhà bên, chống gậy đi chậm rãi, và lập tức có người đứng dậy nhường cho bà chỗ dựa lưng vào tường. Mấy người đàn ông đi ruộng về, chân còn lấm bùn, ghé qua lu nước rửa chân rồi ngồi bệt xuống thềm. Không ai rủ ai cả. Cứ tới giờ này thì tự khắc kéo tới.
Trong nhà, một ngọn đèn dầu được vặn to lên rồi bưng ra đặt giữa sân.
Người biết chữ giỏi nhất xóm bước ra, tay cầm một xấp giấy mỏng. Ông ngồi xuống cái ghế đẩu kê ngay dưới ngọn đèn, lật tìm chỗ đánh dấu từ tối hôm qua, rồi hắng giọng một tiếng.
Cả sân im phăng phắc.
Thứ ông sắp đọc không phải kinh sách, cũng không phải giấy tờ của làng. Đó là truyện. Một bộ truyện rất dài, viết ở bên kia biên giới từ mấy trăm năm trước, kể chuyện những người đàn ông kết nghĩa anh em rồi sống trọn đời với lời thề ấy. Chỉ có điều xấp giấy trong tay ông không có lấy một chữ Hán nào. Nó in bằng thứ chữ mới, thứ chữ mà một đứa trẻ chăm chỉ có thể học xong trong vài tháng.
Chuyện bắt đầu ở Sài Gòn, vào ngày mùng một tháng tám năm một nghìn chín trăm lẻ một.
Hôm ấy có một tờ báo ra số đầu tiên, tên là Nông cổ mín đàm. Ở trang bốn, xen giữa mấy bài bàn chuyện ruộng nương và buôn bán, tòa báo cho đăng một mẩu truyện dịch. Mẩu ấy là đoạn mở đầu của bộ Tam quốc diễn nghĩa. Lần đầu tiên trong đời sống người Việt, một bộ tiểu thuyết dài của Trung Hoa được kể trọn vẹn bằng chữ quốc ngữ.
Ai ngồi dịch những dòng đầu tiên ấy thì tới giờ vẫn chưa ngã ngũ. Trên mặt báo có ghi một cái tên. Nhưng người nghiên cứu đời sau, kẻ bảo người cầm bút thật là ông chủ bút Lương Khắc Ninh, kẻ lại bảo là ông Nguyễn Chánh Sắt cùng ông Nguyễn An Khương. Người mở đường ấy giấu mình kỹ đến mức hơn một trăm năm sau, chúng ta vẫn chưa gọi được đúng tên ông.
Báo ra mỗi kỳ một đoạn. Đọc hết đoạn thì hết, phải chờ kỳ sau. Kiểu kể nhỏ giọt ấy hóa ra hợp với người mình lạ lùng, vì nó biến việc đọc thành một cái hẹn.
Rồi các nhà in vào cuộc.
Năm một nghìn chín trăm lẻ bảy, ở Sài Gòn, bộ Tam quốc lần đầu được in thành sách hẳn hoi, do ông Nguyễn Liên Phong dịch và ông Đinh Thái Sơn đứng ra xuất bản. Hai năm sau, ở Hà Nội, một bản khác ra đời, bản của ông Phan Kế Bính, có ông Nguyễn Văn Vĩnh soát lại từng chữ.
Ông Phan Kế Bính là người làng Thụy Khê. Ông sinh năm một nghìn tám trăm bảy mươi lăm, học chữ Hán từ bé, và năm một nghìn chín trăm lẻ sáu thì đỗ cử nhân. Đỗ xong, ông không ra làm quan. Ông đi dạy học, rồi ngồi dịch sách. Cái vốn chữ Hán ông học từ thuở bé, ông đem dùng để chuyển nguyên một pho truyện sang thứ chữ mà con nít cũng đọc được. Ngay ở lời tựa cuốn sách in năm một nghìn chín trăm lẻ chín, người làm sách còn reo lên rằng chữ này hay quá, mà lại dễ học quá.
Bản dịch ấy về sau được ông Bùi Kỷ soát lại thêm lần nữa, và trở thành bản mà bao nhiêu thế hệ người Việt thuộc nằm lòng.
Sau Tam quốc là cả một dòng sách chảy tới. Truyện Nhạc Phi in năm một nghìn chín trăm lẻ năm. Thủy hử và Đông Chu liệt quốc năm một nghìn chín trăm lẻ sáu. Phong thần, rồi Thuyết Đường. Riêng ông Trần Phong Sắc, một mình, dịch chừng hai mươi chín bộ. Ở Sài Gòn, hiệu sách Tín Đức thư xã in đi in lại bộ Tam quốc, chỉ tính trước năm một nghìn chín trăm ba mươi đã ít nhất bốn lần. Ban đầu sách chia thành ba mươi mốt tập mỏng cho người ta dễ mua dần, về sau mới gộp lại thành một quyển dày hơn một nghìn trang. Và trên cái kệ ấy, sớm muộn gì cũng có Tây du ký, bộ truyện mà đứa trẻ nào cũng đòi nghe, chuyện chú khỉ đá theo nhà sư đi thỉnh kinh.
Điều đẹp nhất của cả câu chuyện này nằm ở chỗ khác.
Hồi ấy, nhà nghèo cho con đi học chữ nhiều khi không mong con làm ông này bà nọ. Chỉ mong con biết đọc, để tới mùa nông nhàn, trong nhà có một người đọc truyện Tàu cho cả nhà cùng nghe. Thế là đứa nhỏ nào học chữ nhanh nhất bỗng thành người quan trọng nhất của buổi tối. Nó ngồi giữa sân, dưới ngọn đèn, còn ông bà cha mẹ thì ngồi vòng quanh, nghe con mình đọc.
Đoạn mà cả sân chờ nhất, kỳ nào cũng có người xin đọc lại, là đoạn mở đầu, hồi thứ nhất trong một trăm hai mươi hồi.
Ba người đàn ông vừa mới gặp nhau. Họ ra sau nhà, chỗ có một vườn đào đang nở rộ. Giữa những cánh hoa ấy, ba người sụp xuống thề với nhau rằng từ nay coi nhau như anh em ruột thịt, sinh không cùng ngày nhưng nguyện có nhau tới cùng. Chỉ vậy thôi. Không đao to búa lớn gì cả. Vậy mà mấy trăm năm sau, ở một cái sân gạch cách vườn đào ấy cả một vùng biển rộng, người ta nghe tới đó vẫn nín thở.
Nghe riết rồi mấy cái tên trong sách thành tên người quen trong xóm. Ai nóng tính thì bị nói là nóng như Trương Phi. Ai hay ngờ vực thì bị trêu là đa nghi như Tào Tháo. Ông bà mình nhắc Quan Công, nhắc Khổng Minh bằng cái giọng thân thuộc y như đang nhắc một người ở đầu ngõ, chứ không phải nhân vật trong một cuốn sách nước ngoài.
Bây giờ, trong nhà cả nhà mình, mấy cái tên ấy vẫn còn nguyên. Chúng đi vào tiếng Việt bằng đường bộ, chậm rãi, qua tay người dịch, qua nhà in, qua giọng đọc của một đứa nhỏ mới biết mặt chữ. Không phải một dân tộc dạy một dân tộc. Chỉ là hàng xóm kể chuyện cho hàng xóm nghe, rồi bên này nghe xong thì kể lại bằng tiếng của mình, thêm vào đó giọng của mình.
Ngoài sân, người đọc dừng lại đúng chỗ gay cấn nhất. Ông gấp xấp giấy, lấy cọng lá làm dấu, rồi nói câu quen thuộc, mai kể tiếp.
Có tiếng phản đối rào rào. Không ăn thua. Chiếu được cuốn lại, dựng vào góc tường. Ngọn đèn dầu được bưng vào nhà, và cái sân gạch tối dần. Chỉ còn tiếng dép lê ra cổng, tiếng bà cụ chống gậy đi khuất sau hàng rào, và tiếng mấy đứa nhỏ vừa chạy vừa cãi nhau xem tối mai đứa nào được làm Trương Phi.