Tết Đoan Ngọ và nhà thơ Khuất Nguyên
Vị đầu tiên chạm vào lưỡi là vị ngọt. Ngay sau đó là một chút chua. Rồi một chút cay nhẹ, tê tê, như thể có ai vừa thổi một hơi ấm vào trong miệng mình.
Mắt còn chưa mở hẳn. Chân còn chưa xỏ dép. Mặt thì chắc chắn là chưa rửa. Vậy mà đã có một cái bát nhỏ được đặt vào tay rồi.
Trong bát là những hạt nếp còn nguyên vẹn, tím sẫm, bóng nhẫy, dính vào nhau thành từng cụm nhỏ, nằm ướt trong một thứ nước sánh. Mùi men bốc lên trước cả khi bát kịp đến gần mũi. Mùi ấy không gắt. Nó ấm, hơi chua, giống mùi cơm nếp để qua đêm mà thơm hơn cơm nếp rất nhiều lần.
Bà chỉ nói đúng một câu, ngắn gọn như mọi năm.
Ăn đi cho giết sâu bọ.
Hôm ấy là mùng năm tháng năm.
Người mình gọi ngày ấy là Tết Đoan Ngọ. Đoan nghĩa là mở đầu, Ngọ là giờ giữa trưa, quãng từ mười một giờ trưa đến một giờ chiều. Nhưng ở trong nhà thì hầu như chẳng ai gọi bằng cái tên chữ nghĩa đó. Người lớn gọi luôn là Tết giết sâu bọ.
Và chính cái tên nôm na ấy giải thích vì sao bát cơm rượu nếp phải ăn đúng lúc vừa ngủ dậy. Người xưa tin rằng trong bụng người có những con sâu bọ nhỏ nằm im suốt năm, chỉ đúng ngày này mới ngoi lên, nên phải đón đúng lúc bụng còn rỗng, trước khi kịp uống ngụm nước nào.
Bát cơm rượu ấy không làm vội được. Nếp phải đồ chín, để nguội, rắc men, rồi ủ chừng ba ngày cho ngọt dần. Ở miền Bắc, người ta hay chọn nếp cái hoa vàng hoặc nếp cẩm, và cố ý giữ nguyên lớp cám bọc ngoài hạt gạo. Nhờ vậy bát cơm rượu mới có màu tím than sẫm, và mới có đúng cái vị vừa ngọt vừa chua ấy.
Bên cạnh bát cơm rượu là mấy thứ nữa. Một đĩa mận, vỏ còn phủ lớp phấn trắng mỏng, cắn vào chua đến nhăn mặt. Một chùm vải vừa vào mùa, bóc lớp vỏ sần ra thì bên trong trắng trong như thạch. Và một chiếc bánh tro nhỏ, còn buộc dây, còn nguyên lá.
Bánh tro cũng làm từ gạo nếp, nhưng nếp ấy đã được ngâm trong nước tro trước khi gói lá đem luộc. Luộc xong, hạt gạo tan hẳn vào nhau thành một khối trong veo màu hổ phách, nhìn nghiêng còn thấy ánh sáng xuyên qua. Bánh không nhân, không mặn, không ngọt, chỉ mát và trơn. Phải chấm mật mía thì mới thành ra ngon.
Rồi đến trưa. Đúng giờ Ngọ, khi nắng dựng thẳng đứng trên đầu và bóng người ngắn lại còn một vệt, nhiều nhà lại ra vườn hái lá. Người xưa tin rằng trong suốt một năm, đó là lúc lá cây trong vườn quý nhất.
Buổi sáng mùng năm tháng năm ở nhà mình êm đềm như vậy đó.
Nhưng cũng đúng ngày ấy, ở những khúc sông rất xa về phía bắc, lại có một thứ âm thanh hoàn toàn khác.
Tiếng trống.
Trống dội trên mặt nước, dồn từng nhịp một, đều và gấp, nghe rõ từ trên bờ. Dưới sông là những chiếc thuyền dài và hẹp, trang trí hình rồng, mũi thuyền chạm hẳn một cái đầu rồng. Hai bên mạn, cả một hàng người cùng bổ mái chèo xuống nước theo đúng nhịp trống ấy, không ai lệch một phách. Nước bắn trắng xóa hai bên. Cảnh ấy diễn ra nhiều nhất ở vùng trung và hạ lưu sông Trường Giang, và cũng đúng vào mùng năm tháng năm.
Vì sao lại có tiếng trống ấy, thì người xưa kể thế này.
Cách đây hơn hai nghìn hai trăm năm, ở nước Sở có một người tên là Khuất Nguyên. Ông vừa làm quan, vừa làm thơ. Và ông không làm thơ theo lối cũ. Ông mở ra hẳn một lối thơ mới, một lối riêng đến mức người đời sau phải lấy luôn tên bài thơ lớn nhất của ông ra mà gọi tên cả lối thơ ấy.
Bài thơ lớn nhất ấy tên là Ly Tao. Về sau, thơ ông được gom lại trong một tuyển tập gọi là Sở Từ, một trong hai tuyển thơ cổ lớn nhất của cả xứ ấy. Người đời sau cứ thế chép lại, đọc lại, suốt hơn hai nghìn năm không dứt.
Còn cuộc đời ông thì về sau không còn ở gần kinh thành nữa. Những năm cuối, ông sống ở vùng sông nước phía nam.
Rồi ông mất trên sông Mịch La, khúc sông nay thuộc vùng Hồ Nam. Dân làng quanh đó thương tiếc ông vô cùng.
Chuyện kể tiếp rằng người trong làng đổ hết ra bờ sông. Họ nhảy lên thuyền, chèo ngược chèo xuôi đi tìm ông. Họ khua mái chèo thật mạnh, gõ trống thật to, tiếng trống dội đi dội lại giữa hai bờ. Rồi họ vốc từng nắm gạo thả xuống dòng nước, mong đàn cá cứ ăn gạo mà thôi.
Người ta còn kể thêm một đoạn nữa. Rằng những nắm gạo thả trần xuống sông chưa kịp trôi xa đã bị một con vật dưới nước lấy mất. Thế là từ đó, không ai thả gạo trần nữa. Người ta gói gạo vào trong lá, buộc chặt lại bằng chỉ màu, rồi mới thả xuống sông.
Nắm gạo gói lá buộc chỉ ấy chính là món bánh mà đến giờ, cứ mùng năm tháng năm, người ta lại gói, lại luộc, vẫn nguyên cái dáng gói lá buộc dây như xưa.
Có một điều thú vị mà những người nghiên cứu ngày nay nói thêm. Ngày mùng năm tháng năm vốn đã là một ngày đặc biệt từ trước khi có câu chuyện nhà thơ. Nó rơi đúng vào quãng nóng nhất, ẩm nhất trong năm, cũng là quãng người ta vừa cấy xong ngoài ruộng. Người xưa lấy ngày ấy để xua bớt cái oi nồng và cái ẩm thấp. Câu chuyện nhà thơ đến sau, đắp lên trên một ngày lễ đã có sẵn, rồi ở lại luôn đến bây giờ.
Cho nên cùng một tờ lịch, cùng một ngày mùng năm tháng năm, mà mỗi nơi lại nhớ một điều riêng của mình. Ngay bên kia thôi, mỗi vùng cũng tưởng nhớ một người khác nhau, chứ không phải cả nước cùng nhớ một ai. Cả nhà cứ hình dung như một cái sân chung mà mỗi nhà mang ra một câu chuyện. Riêng ngày hội đua thuyền rồng trên sông thì đã được ghi vào Danh sách đại diện Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm hai nghìn lẻ chín.
Còn buổi sáng ở nhà mình thì vẫn trôi đúng như mọi năm.
Bát cơm rượu đã hết. Trên tay đứa cháu bây giờ là chiếc bánh tro. Sợi dây được gỡ ra, lá mở ra từng lớp một, và mùi lá luộc bốc lên, ngai ngái, mát, rất khó gọi tên. Bên trong là khối bánh trong màu hổ phách, mềm và trơn đến mức suýt nữa thì tuột khỏi tay.
Chấm một góc bánh vào bát mật mía. Cắn một miếng. Vẫn cái vị mát ấy, vẫn cái mùi lá ấy, y như năm ngoái, y như hồi bà còn bé bằng đứa cháu bây giờ.
Chỉ khác đúng một điều. Bây giờ, khi lớp lá cuối cùng vừa mở ra, người cầm chiếc bánh đã biết vì sao nắm gạo ấy phải được gói trong lá.