Thơ Đường trong lòng người Việt
Bốn mươi tám nghìn chín trăm bài thơ.
Đó là số thơ nằm trong một bộ sách duy nhất. Bộ sách ấy dày ba mươi tập, và bên trong ba mươi tập là chín trăm quyển xếp nối nhau.
Con số ấy to quá nên khó hình dung, vậy thử cách này. Cứ mỗi tối trước khi đi ngủ, trong nhà có một người đọc lên đúng một bài. Không bỏ tối nào. Không nghỉ Tết, không nghỉ ốm, không nghỉ hôm mất điện. Đọc đều đặn như thế thì phải hơn một trăm ba mươi năm mới hết bộ sách.
Nghĩa là ông bà bắt đầu đọc từ lúc còn bé tí, đọc suốt cả một đời người, rồi trao lại cho bố mẹ đọc tiếp. Bố mẹ đọc hết đời mình lại trao cho các con. Các con đọc tới lúc tóc bạc rồi trao cho cháu. Ba đời người nối nhau, mà quyển cuối cùng vẫn chưa lật tới trang cuối.
Còn một con số nữa, lạ hơn nhiều. Bốn mươi tám nghìn chín trăm bài thơ ấy không phải của một người. Chúng là của hơn hai nghìn hai trăm người khác nhau.
Hai nghìn hai trăm người, tức là đông bằng cả một ngôi trường lớn. Hãy tưởng tượng một ngôi trường mà mỗi học trò, mỗi thầy cô, mỗi bác bảo vệ, ai cũng để lại được một bài thơ. Và bài nào cũng được người đời sau chép lại, giữ gìn, đóng thành sách.
Bộ sách đó tên là Toàn Đường thi. Năm một nghìn bảy trăm lẻ năm, vua Khang Hy ra lệnh gom cho bằng hết thơ đời Đường còn sót lại trong thiên hạ. Hai năm sau, vào năm một nghìn bảy trăm lẻ bảy, bộ sách in xong.
Nhưng thơ bên trong thì cũ hơn thế rất nhiều. Đời Đường bắt đầu năm sáu trăm mười tám và khép lại năm chín trăm lẻ bảy. Khi người ta ngồi chép bộ sách ấy, những bài thơ này đã lang thang trong đời sống ít nhất tám chín trăm năm rồi.
Bây giờ mới tới câu hỏi hay nhất.
Trong bốn mươi tám nghìn chín trăm bài, một người Việt bình thường thuộc được bao nhiêu bài?
Không phải một nghìn. Không phải một trăm. Thường thì chỉ vài bài. Bốn bài, năm bài, học từ hồi còn ngồi ghế nhà trường, rồi giữ nguyên trong đầu cho tới lúc tóc đã hoa râm. Bao nhiêu thế hệ học trò Việt Nam từng đọc chúng, và lạ ở chỗ mấy bài sống sót ấy đều ngắn ngủn. Có bài chỉ vỏn vẹn hai mươi chữ.
Bài thứ nhất kể về một người nằm mãi không ngủ được.
Ánh trăng rọi xuống đầu giường, trắng đến mức người ấy tưởng nhầm là sương đọng trên mặt đất. Người ấy ngẩng đầu lên nhìn vầng trăng sáng. Rồi cúi đầu xuống, nhớ quê nhà.
Hết. Không có gì thêm nữa. Hai mươi chữ, hai động tác. Ngẩng lên, rồi cúi xuống.
Người viết bài ấy tên là Lý Bạch, sinh năm bảy trăm lẻ một và mất năm bảy trăm sáu mươi hai. Đọc theo âm Hán Việt, hai câu cuối của ông nghe thế này.
Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương.
Bài thứ hai còn làm người lớn nghẹn hơn.
Một ông cụ trở về làng cũ. Ông rời làng từ khi còn là đứa trẻ con, giờ quay lại thì tóc trên đầu đã rụng thưa hết cả. Chỉ có giọng nói là không đổi một chút nào. Vẫn nguyên cái giọng của làng, cái giọng ông mang theo suốt cả đời mà không đánh rơi mất.
Lũ trẻ trong xóm gặp ông ngoài ngõ. Chúng nhìn ông, và chúng không nhận ra ông là ai. Chúng cũng chẳng có lý do gì để nhận ra, vì chúng chưa từng thấy ông bao giờ. Thế là chúng cười, rồi lễ phép hỏi ông một câu.
Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai.
Nghĩa là: cười hỏi, khách ở nơi nào tới vậy?
Khách. Ngay giữa cái làng của chính mình. Bài thơ ấy của Hạ Tri Chương, sinh năm sáu trăm năm mươi chín và mất năm bảy trăm bốn mươi bốn, và nó chỉ dài đúng bốn câu.
Bài thứ ba dựng lên một tòa lầu bên sông, gọi là lầu Hoàng Hạc. Người ta kể rằng thuở xưa có người cưỡi hạc vàng bay đi từ chỗ ấy, rồi không bao giờ quay lại nữa. Hạc đi mất, chỉ còn tòa lầu đứng trơ ra đó, còn mây trắng thì cứ bay, hết nghìn năm này sang nghìn năm khác. Đến lúc chiều buông, người khách đứng trên lầu ngóng về phía quê mình, mà khói sóng trên mặt sông che kín, chẳng nhìn thấy gì. Người viết là Thôi Hiệu.
Hơn một nghìn năm sau, ở nước mình, có một nhà thơ tên là Tản Đà.
Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm một nghìn tám trăm tám mươi chín, mất năm một nghìn chín trăm ba mươi chín. Cái bút danh của ông ghép từ hai thứ ở ngay quê nhà, là núi Tản Viên và sông Đà. Ông làm thơ, viết báo, và dịch thơ Đường sang tiếng Việt hay đến mức tới giờ người ta vẫn coi ông là một trong những người dịch hay nhất.
Ngày mùng mười tháng mười năm một nghìn chín trăm ba mươi bảy, bản dịch lầu Hoàng Hạc của ông in trên báo Ngày Nay. Nó mở đầu như thế này.
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ!
Cả nhà để ý một chuyện nhỏ mà rất hay ở đây. Bài gốc làm theo thể thất ngôn bát cú, tám câu, mỗi câu bảy chữ, luật lệ chặt chẽ từng tiếng một. Còn Tản Đà dịch ra lục bát, một câu sáu chữ nối một câu tám chữ, đúng cái nhịp mà bà ru cháu ngủ trên võng giữa trưa. Ông không bê bài thơ ấy sang. Ông đưa nó về nhà.
Mà cái khuôn tám câu bảy chữ kia thì người Việt mình cũng viết trong đó, suốt mấy trăm năm liền. Khoảng thế kỷ mười ba, cha ông đã tạo ra chữ Nôm để ghi lại chính tiếng nói của mình. Rồi Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và bao nhiêu người nữa đem thứ chữ ấy đổ vào khuôn thơ tám câu.
Cái đổ vào thì hoàn toàn là của mình. Cái ao làng mùa thu. Cái quạt trong tay. Những lời ăn tiếng nói ngoài chợ, mộc mạc tới mức đọc lên là biết ngay người Việt viết.
Cho nên chuyện xảy ra ở đây không phải là chép lại. Người Việt mình đã đọc, đã dịch, đã ngâm nga, đã đem những bài thơ ấy vào lớp học và vào trí nhớ. Khuôn thơ thì giữ nguyên, còn mọi thứ bên trong khuôn đều đã thành của mình từ rất lâu rồi.
Giờ thì quay lại con số lúc đầu.
Bốn mươi tám nghìn chín trăm bài thơ. Hơn hai nghìn hai trăm người viết. Chín trăm quyển sách xếp thành ba mươi tập. Gần như toàn bộ chỗ ấy vẫn nằm yên trong sách, không ai trong nhà mình từng đọc, và có lẽ sẽ chẳng bao giờ đọc.
Thứ len qua được biển thơ ấy để tới lớp học của trẻ con nước mình hôm nay, hóa ra không phải bài dài nhất, cũng không phải bài khéo nhất.
Chỉ là một ông cụ đi xa cả đời, về tới đầu làng mình, giọng nói còn nguyên, mà lũ trẻ trong xóm lễ phép hỏi ông ở nơi nào tới. Bốn câu, thế thôi. Và trong nhà mình, thế nào cũng có người vừa lặng đi khi nghe tới chữ khách.